View Full Version : MU 's Fans vào đây thảo luận về ROCK !!
fikdevil
04-09-2006, 12:16 AM
đối nghịch lại rap kia, anh em rock fan vào đây đê
metal muôn năm
ko biết anh em trong forum thích những band nào vào đay tâm sự cái
stillo
04-09-2006, 12:19 AM
Mong bạn không dùng những lời lẽ đó nhé, nói lịch sự một chút có phải hay hơn không ;)
The 7th Of July
04-09-2006, 09:02 AM
MU + ROCK = ... Không thể tả được!!^^... Xem MU đá + nghe rock = Phê!:))
November rain
04-09-2006, 09:05 AM
xem nick đê ... fan rock trong này hình như có tôi ông metal và cu pupi ....
MU3121985
04-09-2006, 09:50 AM
các bạn đã được nghe Butt chơi ROCK chưa? (hàng độc đấy !!!) Mình sẽ Post sau... :rock:
fikdevil
04-09-2006, 09:57 AM
ghét nhât là tụi alternative ( điển hình là bon link) , nhưng cũng tùy vì có nhiều ******* alternative giỏi quá ( red hot chili paper la vi dụ đi guitar kinh vãi trong scar tissue chăng hạn . Mà Guns cũng bị coi là 1 alternative đó november rain
metallica
04-10-2006, 03:37 AM
Tớ máu Metallica và AC/DC.
Hồi cấp III vừa học vừa nghe loa hết công suất. Nhưng thời gian gần đây không còn điều kiện bật thế nữa vì nhà có em nhỏ. Mà nghe ROCK mà nghe nhỏ thì lại không phải là ROCK.
fikdevil
04-10-2006, 12:13 PM
cho tai nghe vao , toi o nha thường ko có ai toan bật hết cỡ luôn ( nhưng chỉ ban ngay thôi )
metalic à được đấy band mình thích nhất
bác nghe nghe kamelot chưa, có cái đĩa nào của Hammer Fall ko ( nghe mấy bài của bon nó hay quá)
fan_C.Ronaldo
04-10-2006, 01:33 PM
Em nghĩ là nên thay cái tít của topic này là : có fan MU nào yêu rock ko? thay cho "có fan nào Mu yêu rock ko?" - được không ? :D
November rain
04-10-2006, 07:40 PM
AC/DC ah metal ban này của Úc nhưng ko nổi lắm tôi chỉ biết qua thôi ... hôm trước thấy có chỗ bán áo của AC/DC.... tôi thì kết Pro Rock và hart rock thôi còn alternative cũng nghe nhung chỉ nghe Avirl thôi còn chủ yếu là nghe Dream Theater và Queen ....
metallica
04-11-2006, 03:08 AM
keke, AC/DC mà không nổi hả Bro. Bọn này là một trong số không nhiều BAND được lưu danh vào ngôi nhà ROCK Thế giới đó.
BỌn này nhạc nghe tiết tấu cực nhanh, chủ đạo là guitar và giọng hát cực kỳ "khó nhằn" của CHú Young. NGhe khó kinh dị, nhạc nhanh, hát nhanh, tôi đú mấy lần mà không thể hát theo nổi :D, đành chỉ nghe.
Nghe Mà đeo tai nghe không sướng, với lại thế dễ điếc lắm. Nên chỉ thỉnh thoảng mới được nghe phê một trận :D THế cũng là đủ.
Rock hiện nay tôi không biết gì, vì không có time quan tâm, đành nghe nhạc "cổ" vậy.
fikdevil
04-11-2006, 01:44 PM
đúng đó ko ai mà ko biết đến cái tên AC/DC 1 band quá đỉnh với phong cách heavy metal ( phong cách vãi cứ nhin tháy chiếc áo comple và chiếc quần đùi là tôi lại liên tưởng tói họ)
phải rui lâu ko update tin tức mấy band mới giờ ko nghe nhiều nhưng có 1 số band các bro nghe thử đi như hammer fall, ìn flames , behemoth, kamelot , ...hậu sinh khả úy mong là như vậy
metallica
04-12-2006, 04:23 AM
Để thử xem, biết đâu hậu sinh khả úy thật.
Ấn tượng ban đầu về AC/DC là đây là BAND của anh em, 2 anh em ruột nhà họ YOUNG và 2 chú còn lại cũng là anh em họ. Các chú này có thời kỳ chơi nhạc ROCK kiểu cổ, kiểu như Rolling Stones, nhưng mà may các chú ra có 1 Album rồi stop, không đi theo hương đó nữa, mà vẫn trung thành với Heavy. Ấn tượng thứ hai như fikdevil nói. đó là bộ comple và áo sơ mi cà vạt nhưng mặc quần ... sọc. Ai nghe không quen rất khó nhằn.
có tui nữa nè,nghe tạp phế lù-hehe
à mà ông november rain:trong phần yêu cầu bài hát tôi hỏi ông album của x-japan mà sao ko thấy ông trả lời?
MU.one
12-23-2006, 09:46 PM
Sao không thấy ai là fan của Stratovarius vậy cà.Mình thì thích nhất là ban này với Rhapshody.Nghe mà không thể cưỡng lại với những điệu nhạc lôi cuốn mê hồn.
DJ9x_online
12-23-2006, 10:17 PM
em khoái nhất là Guns N'Roses&Metallica
ngoài ra thêm Queen
hiện nay thích nhứt Green Day :mushirt: :mushirt: :mushirt:
có pác nào có video của bài no return thì share cho tui với
nghe đã nhiều mà chưa bao giờ được xem video,hic
MUONLINE
01-01-2007, 03:00 PM
Có ai là Fan của Simple Plan thì zô đây nèoooooooooooooooo
Smithy14
01-06-2007, 04:53 PM
Green Day number one !
Quá đỉnh luôn
Goal_hunter
01-06-2007, 05:03 PM
tui nhạc nào ha là thích
haha,rất đa dạng và phong phú,có chú thích alter,có chú thích symphonic power,có chú thích thrash,có chú nghe tạp=>giống tớ!!!!........
tóm lại có anh có em thế này là vui rồi.........tiện đây xin post một bài sưu tầm về lịch sử phát triển của các dòng:
PHẦN 1 : Hard Rock/Heavy Metal
HEAVY METAL bắt đầu từ bao giờ thật là một điều không dễ trả lời ngay. Theo hầu hết các niên sử của dòng nhạc metal, sự bộc phát đầu tiên đến từ ban nhạc THE KINKS (63) tại Luân đôn với bài "You really got me" và ban nhạc THE WHO (64) với bài "My Generation". Nhạc sĩ chơi thể loại Heavy Metal đầu tiên mà ai cũng đồng ý là Alice Cooper với ban nhạc THE SPIDERS hình thành năm 1965 . Tuy nhiên, cho đến năm 1967, Heavy Metal vẫn chưa được diễn đạt trung thực và cái tên Alice Cooper mới được in đậm trong trí nhớ của thế giới mãi đến năm 1971 qua đĩa nhạc "Love it to death".
Trong năm 1967, thế giới nhạc ROCK vẫn đắm chìm với phong trào hippies Summer Of Love, một mùa hội diễn âm nhạc và là một bằng chứng của một cuộc cách mạng âm nhạc quan trọng với sự xuất hiện hầu như đồng loạt của các ban nhạc sau đây trong những năm 1966-1970:
GOLDEN EARING, CREAM, THE JIMI HENDRIX EXPERIENCE, LED ZEPPELIN, VANILLA FUDGE, IRON BUTTERFLY, STEPPENWOLF, BLUE CHEER, DEEP PURPLE, GRAND FUNK RAILROAD, FREE, URIAH HEEP, MOUNTAIN, HUMBLE PIE, BLOODROCK, MC5, BLACK WIDOW, ATOMIC ROOTSTER, CACTUS và BLACK SABBATH.
Họ đã gây cho thế giới một ấn tượng về Heavy Metal mà ngay ban đầu 2 ban nhạc IRON BUTTERFLY(66) và STEPPENWOLFF(67) đã làm. Thứ nhất là việc điểm lại các dĩa nhạc đã hình thành; thứ hai, dựa vào câu "Heavy Metal thunder" trong bài kinh điển nổi tiếng "Born To Be Wild". Và thế là một loại nhạc mới, có nguồn gốc từ ROCK & ROLL và BLUES đã chiếm được ảnh hưởng vào thế hệ trẻ thời ấy sau khi đã mệt mỏi với những phần trình diễn chậm chạp, uể oải của những ban nhạc chơi trong thời kỳ Summer Of Love.
Trong những ban nhạc mới ra, CREAM(66) và JIMI HENDRIX EXPERIENCE (67) là những ban nhạc đầu tiên mang đến cho dòng nhạc Heavy Metal lợi nhuận cao. Ẻic Clapton là một nhạc sĩ kỳ tài của ban nhạc CREAM cùng với tài năng của 2 thành viên khác đã tặng cho người nghe những bản nhạc đi vào huyền thọai như “Sunshine Of Your Love” và “White Room”. Chỉ trong vòng 2 năm và qua 4 tập dĩa, CREAM đã trở thành ban nhạc thành công nổi bật có ảnh hưởng như RUSH và VAN HALEN. Khi ban nhạc tan rã, Eric Clapton đã cùng với Ginger Baker lập ngay một ban nhạc mới là BLIND FAITH. Trong khi đó, JIMI HENDRIX EXPERIENCE cũng là một nhóm tam tấu mà nền nhạc của họ chủ yếu dựa trên những thủ thuật đánh đàn ghi-ta tài tình của Jimi Hendrix. Các tập dĩa như "Are you experienced" và "Electric Ladyland" đã lôi cuốn hàng nghìn người hâm mộ đang lên cơn đói nhạc. Họ ngấu nghiến thỏa thuê những âm điệu đó qua ban nhạc vừa kể tên mà trong thời đó vẫn thường được nhắc đến đồng thời với JANIS JOPLIN (69) và THE DOORS, những thành phần vô tử của nhạc Rock trên thế giới.
Trong số nhiều ban nhạc mới ra đời trong thời gian này có SAVOY BROWN, FOGHAT và BAD COMPANY chuyên chơi điệu "blue", BUDGIE với âm thanh sống động nẩy lửa cũng như UFO đã được sinh ra trong sự phát triển bùng nổ của Heavy Metal. Những ban nhạc khác như STATUS QUO xuất hiện từ năm 67 cũng thay đổi tiếng đàn sao cho hợp với thời “sắt thép”. Năm 1973 các ông vua Heavy Metal mới thực sự chiếm lĩnh thế giới âm nhạc, đó là các ban LED ZEPPELIN, DEEP PURPLE và BLACK SABBATH.
Hình tượng Sa-tăng đến từ 2 ban nhạc Anh vừa kể trên: Black Sabbath và Led Zeppelin. Cá nhân Jimmy Page (trước kia chơi trong ban nhạc THE YARDBIRDS cùng với Jeff Beck và Eric Clapton) nay là nhạc sĩ chơi ghi-ta của Led Zeppelin có vẻ được lôi cuốn đặc biệt về sự huyền bí này trong khi các lời nhạc của Sabbath chứa đựng chủ đề này nhiều hơn. Tuy thế, ban nhạc này không tự xưng là thuộc hạ của Sa-tăng; không giống như các ban nhạc metal sau này. Chính Ozzy Osbourne, ca sĩ của Sabbath, đã có khi than phiền vì hoảng sợ trước những "fan" mặc đồ đen, trên tay là những ngọn nến!
Kể đến những lần trình diễn ngòai trời của nhiều ban nhạc, đáng chú ý nhất là Led Zeppelin với phần "rock till you drop" (rock cho đến gục ngã) kéo dài khoảng 2 tiếng và các buổi trình diễn vĩ đại của Alice Cooper, nổi tiếng với nét đặc biệt của con trăn quấn cổ, những màn xẻ, cắt đôi, bẻ đầu các người mẫu giả mà ngay cả chính anh ta cũng tham dự! Hầu hết các ban nhạc đều lên sân khấu, mang những tác động âm thanh “vĩ đại hơn cả cuộc sống” vào phần trình diễn của mình trước một rừng người nóng hực như biển lửa.
Những năm đầu ít ỏi của Heavy Metal (vì tính chất tiền phong nên được mệnh danh là CLASSIC METAL sau này) được xem như là một thời đại tuyệt diệu nhất của dòng nhạc. Không có gì để nghi ngờ đấy là một đoạn đường đáng nhớ nhất của lịch sử âm nhạc. Heavy Metal trở lại khi Led Zeppelin, ban nhạc nổi tiếng nhất về loại nhạc này, đã sáng tác những bài kinh điển như "Black Dog" và “Kashmir” năm 75 và cũng khá sáng chói trong việc thử nghiệm các loại nhạc khác như REGGAE và FOLK. Thực tế thì bài sau đây đã được công nhận đóng một vai trò thành công lớn cho Heavy Metal: "Stairway to heaven" qua kỹ thuật sáng tác tuyệt hảo của Page và Robert Plant mà cho đến ngày nay vẫn được phát thường xuyên qua các làn sóng điện.
Tuy nhiên, phải nói là cho đến năm 1970, ban nhạc BLACK SABBATH mới gọi là đã tấn phong cho Heavy Metal một "linh hồn" thực sự. Ảm đạm, u sầu, âm thanh hệt như đang giã nát với chiếc cối xay, như là muốn báo trước một điềm gỡ nào, các tập dĩa "Black Sabbath", "Paranoid" và "Master of Reality" đã bày tỏ một loại nhạc mang đầy chất tinh quái qua ngón đàn của Tonny Iommi và sự trình diễn của Ozzy Osbourne, Bill Ward và Geezer Butler với các bài kinh điển như "N.I.B.", "Paranoid" và "Children of the Grave". Các ban nhạc như CORROSION OF CONFORMITY, METALLICA và NIRVANA đều có ảnh hưởng của loại nhạc metal này. Bộ mặt của lọai nhạc mới hầu như không bao giờ có thể giống như thế từ khi ban nhạc gốc Birmingham này ra đời. Trong khi đó, Deep Purple, sau một thời gian miệt mài với thể loại Progressive Rock cùng với Rod Evans và Nick Simper, đã xây dựng được một phiến đá vững chắc cho nền nhạc rock qua đĩa "Deep Purple In Rock" (70) và đã trở thành một sứ giả thực sự trong việc cải cách âm nhạc. Thực sự là với các ngón đàn của Ritchie Blackmore hòa nhịp với tiếng đàn synthesizer của Jon Lord và tiếng gào thét chói tai của Ian Gillain đã là phần quyết định chủ yếu cho việc phát triển Heavy Metal ngày nay.
Trong những năm giữa thập niên 60, có 6 ban nhạc mới xuất hiện dưới ánh đèn mầu: THE BLUE OYSTER CULT, THIN LIZZY, JUDAS PRIEST, QUEEN, AEROSMITH và KISS. Có thể nói rằng ban nhạc Judas Priest là tiền phong trong việc truyền bá sáng kiến đưa 2 tay đàn guitars vào ban nhạc Heavy Metal; Aerosmith thì mang lại cho thính giả điệu blues buồn, tình dục và ma túy; Thin Lizzy chơi nhạc dưới ánh sáng tân kỳ lấp lóe với điệu nhạc; Queen giới thiệu cho ta một trình độ có thể cho là cao cấp trong việc thử nghiệm trong âm nhạc cũng như đổi mới những giai điệu, tiết tấu hùng hồn cùng với tính chất kiêu kỳ của Progressive rock. Ban nhạc Kiss cách mạng hóa những buổi trình diễn rùng rợn gợi lại trong ký ức khán giả về Alice Cooper. Còn ban nhạc Blue Oyster Cult thì sao? Họ đã biến mất trong sự lãng quên sau một lọat các tập đĩa phát hành trong những năm 80. Nhưng trong những năm 70 êm đềm trôi qua của Blue Oyster Cult, ban nhạc này đã trở thành một phần quan trọng của vũ đài HARD ROCK vì đã phối hợp thật tuyệt vời các giai điệu nhạc của thập niên 60 và tiếng đàn ghi ta khô, thô ráp của họ.
Trong khi một số các ban nhạc chuyên lo củng cố danh tiếng của mình là những tài danh vĩ đại của dòng nhạc rock, các ban nhạc khác đã bắt đầu biến chế loại nhạc mới Progressive rock qua một hướng khó khăn hơn. PINK FLOYD và GENESIS hầu như vẫn đứng ngòai vương quốc của Heavy Metal, trong khi các ban nhạc JETHRO TULL, YES và KING CRIMSON đã làm quen với Heavy Metal nhiều hơn qua những bài như "Aqualung", "Heart of the Sunrise" hoặc "21st Century Schizoid Man" một cách tương ứng. Được tiêu biểu bởi các kết cấu nhạc phức tạp, phần soạn nhạc khác thường và cách sử dụng nhạc cụ điện tử cao cấp, lọai nhạc Progressive metal chắc có lẽ không bao giờ trở thành hiện thực nếu không có ban nhạc RUSH ra đời. Với album đầu tiên của Rush, tuy lúc ấy chưa được gọi là Progressive, nhưng trong thời gian thâu âm dĩa "Fly By Night" (75) và thành công của tay trống Neil Peart, ban nhạc đã thay đổi vị trí và tỏ niềm khát vọng hơn qua lời nhạc và giai điệu, đưa chất Progressive cho đến biên giới xa nhất qua các dĩa như "A Farewell to Kings" và "Hemispheres". Nhiều ban nhạc Progressive khác như EMERSON, LAKE AND PALMER; FOCUS; ASIA, IQ và MARILLION chỉ làm quen sơ sài với Metal trong suốt thời gian hiện diện của họ.
Thật là đáng tiếc, Heavy Metal đã bị đình trệ hoàn toàn trong cuối thập niên 70. Aerosmith, Thin Lizzy và Black Sabbath bị chìm đắm trong ngục tù của ma túy, Kiss đánh mất vẻ đẹp của âm nhạc qua việc thương nghiệp hóa quá độ, Deeep Purple bị phai nhòa vì việc lo toan thay đổi nhân sự, Led Zeppelin chấm dứt sự nghiệp qua cái chết của tay trống John Bonham; chỉ còn Judas Priest và Queen là đứng vững trong thời gian này. Không chỉ là những ban nhạc có tiếng biến mất dần dần mà vài ban nhạc mới cũng chỉ lóe lên một thời gian ngắn rồi tắt; người ta nói Metal đang nằm ngắc ngỏai trên giường bịnh. Tuy thế, một vài ban nhạc nhỏ nhoi vẫn phát đạt trong kỳ đổ nát này, trong đó phải kể đến AC/DC với tay đàn Angus Young nghiêng ngả đảo điên trên sân khấu và RUSH với giọng rít thất thanh như tiếng động cơ máy bay của Bon Scott. Ted Nugent, thành viên cũ của ban nhạc AMBOY DUKES, đã viết nên những tác phẩm quý giá như “Cat Scratch Fever” và “Double Live Gonzo” trong những năm chót thời 80. Nhóm của anh vì thế đã là một trong những ban nhạc sáng giá nhất còn lại. Dĩa “Ritchie Blackmore´s Rainbow” lại là một album sau cùng hòa nhịp với sự ra đi của thập niên 80 như bước chân của Ronnie James Dio rời khỏi ban nhạc trong sự xao động của bản thân mà anh đã cảm hứng hòan thành qua đĩa “Rainbow Rising” và “Long Live Rock´n´Roll”.
PHẦN 2 : Punk
Nếu gọi Metal là anh cả thì PUNK chính là cậu em trai đã kịp thời cứu nguy cho tấm phông Rock trên sân khấu không bị hạ xuống vĩnh viễn. Một số lượng ban nhạc mới không nhỏ đã xuất hiện, dùng âm nhạc để chống đối chủ nghĩa, chính quyền cũng như những gì đang xảy ra trong cuộc sống. Họ mang lên sân khấu những bài hát nhuộm thẫm sự giận dữ điên cuồng mà thanh niên thời đó gọi là chính đáng. Phong trào nổi lên rầm rộ suốt thời 60 cho đến đầu những năm 70 với những ban nhạc Punk đầu tiên là IGGY & THE STOOGES, MC5 và THE NEW YORK DOLLS. Các ban nhạc của Mỹ và Anh theo sau đã gây cuồng phong trên thế giới phải kể đến là THE *** PISTOLS, THE RAMONES, THE CLASH, THE DAMNED, SIOUXSIE AND THE BANSHEES cũng như nhiều ban ít tiếng tăm hơn đã góp gió thành bão là THE PAGANS, DEAD BOYS, UK SUBS, THE MISFITS, CRASS, THE EXPLOITED, AMNEBIX và PLASMATICS. Sự đóng góp lớn nhất của Punk vào sân khấu Punk/Heavy Metal có thể là lối nhảy "slamdancing" phổ biến, sự phục hưng một âm thanh đầy sinh lực và sự tuyên truyền rộng rãi chống lại những hành vi sai trái của xã hội (như một tiếng vang lại các ca khúc của Black Sabbath chứa đựng trong những bài như "Children of the Grave" và "War Pigs").
3 ban nhạc Punk quan trọng nhất đáng nhấn mạnh một lần nữa là IGGY & THE STOOGES, THE RAMONES và THE *** PISTOLS. Các thành viên trong ban nhạc với Iggy Pop không thiếu sót một điều gì trong việc làm kinh ngạc khán thính giả vì sự cuồng nhiệt quá độ của họ, đến nỗi chính Iggy Pop cũng phải công nhận rằng họ chỉ chịu đựng nhiều lắm là 15 phút qua phần gào thét cuồng dại của Iggy. Ban nhạc của New York là THE RAMONES có những bài hát khinh suất, táo bạo không ngờ, gây ấn tượng và ảnh hưởng mạnh cho các ban nhạc sau này như THE RED HOT CHILI PEPPERS và NIRVANA. THE *** PISTOLS đáng được gọi là ban nhạc PUNKROCK trứ danh nhất trong mọi thời đại. Các sáng tác của họ nổi tiếng với những lời chỉ trích như trong bài "God Save The Quen" hoặc “Anarchy In The UK”. Tuy nhiên, qua lần trình diễn tại Mỹ năm 1978, ban nhạc này đã tự diệt thanh danh khi tay đánh bass Sid Vicious bị tố cáo đã giết người yêu là cô Nancy Spunge và sau đó đã tự tử trong một cơn say ma túy. Sự kiện này đã đưa Vicious vào danh sách các "liệt sĩ" đáng hổ thẹn của dòng Punk, *** Pistols tan rã, Punk- Rock bắt đầu suy thoái và chỉ còn hoạt động phần lớn lặng lẽ cho đến thập niên 90.
Trong khi Punk quyến rũ được số lượng lớn thanh niên, một ban nhạc cuồng nhiệt khác cũng đã bắt đầu tác động vào giới trẻ, đó là MOTÖRHEAD. Ban này được biểu thị cho sự bắt đầu của những thể lọai Thrash/Speed/Power Metal và sau này biến thể thành thể loạiDeath Metal. Từ đĩa phát hành đầu tiên của Motörhead năm 1976 là “On Parole” họ đã biểu lộ rõ tiềm năng không hề vay mượn của mình trong những đĩa phát hành những năm cuối của thập niên 70 và đầu 80 như là “Overkill”, “Bomber”, “Ace of Spades” và “No Sleep 'Til Hammersmith”. Những cống hiến này thực sự là đòn bẫy cho Metal Song nói chung. Hơn nữa, Motörhead không những đã thu hút nhóm nghe nhạc Metal một cách ngạc nhiên lý thú mà còn hấp dẫn cả các fan Punk bốc lửa và vì thế đã đánh dấu một sự khơi mào cho một biến thể khác gọi là Hardcore.
PHẦN 3 : New Wave of British Heavy Metal - POP METALTrong khi Punk đang làm rung chuyển nền tảng của Rock & Roll thì Heavy Metal trở lại với JUDAS PRIEST, SCORPIONS, ACCEPT và phong trào đột phát ngắn ngủi New Wave of British Heavy Metal (NWOBHM). Cao trào có tính chất trọng đại này phát xuất từ Anh quốc với các ban nhạc được hồ hởi đón chào như DIAMOND HEAD, DEF LEPPARD, HOLOCAUST, IRON MAIDEN, SAXON, SAMSON, TYGERS OF PAN TANG, VENOM, RAVEN và SWEET SAVAGE. Trong những ban nhạc vừa kể chỉ có IRON MAIDEN và DEF LEPPARD tồn tại lâu dài; SAXON thành công cực kỳ nhưng chỉ trong một giai đọan thật ngắn. JUDAS PRIEST muốn đại chúng hóa các sản phẩm đồ da, giầy ống, đinh đóng làm biểu tượng cho nhạc Metal; SCORPIONS thì biểu dương tài năng qua một loạt các đĩa thành công rực rỡ như “Virgin Killer”, “Lovedrive” và “Blackout” với cả hai sở trường đồng thời là Ballad và Heavy. Ban nhạc ACCEPT đã chứng tỏ tài năng vững vàng của họ và thể loại Proto-Power Metal qua các đĩa như “Breaker” và “Restless and Wild”.
Cùng thời gian đó, IRON MAIDEN đã mang lại hình ảnh huyền thoại của Heavy Metal qua các đoạn riff mạnh bạo trong các album như “Killers”, “Piece of Mind”, “Powerslave” và giữ vững thế đứng trong làng nhạc Hard Rock nhiều năm cho tới khi METALLICA xuất hiện. Trong khi tiếng bass của Iron Maiden trình bày vẫn ầm ầm như sấm (cộng với các đoạn riff là một sự phối hợp thường gọi là Classic Metal), ban nhạc VENOM đã giới thiệu một thể loại mới khác là Thrash Metal trong các đĩa “Black Metal” và “Welcome to Hell”. Có thể nói đó là nền tảng của thể nhạc Death và Black metal sau này. Trước đó, ban nhạc VENOM chỉ là một nhóm chơi nhạc không chính thức với tên gọi là Oberon, nay đã trở thành một ban nhạc cực mạnh trong thời kỳ này, cùng với MOTÖRHEAD, STAINED CLASS và RIOT với âm thanh mạnh mẽ khác thường đã truyền cảm hứng cho các ban nhạc mới nổi như METALLICA, EXODUS, SLAYER và MANTAS (sau này là DEATH). Những ban nhạc này đạt tới một lối chơi riêng biệt thật sinh động và tốc độ thật nhanh.
Vai trò của New Wave of British Heavy Metal tuy hiện hữu không bao lâu cũng đã được đánh giá cao hơn là việc kích thích được sự phục hưng thể loại Heavy Metal tại Anh quốc. Nó đã mang lại sức sống cho tuổi trẻ sẵn tràn đầy sinh lực, một sự sáng tạo phong phú không ngừng cho âm nhạc, tạo ra một sức truyền cảm mãnh liệt, một con đường cho Heavy Metal tiến hóa suốt thập niên 80. Với các ban nhạc sử dụng riff là cơ bản như JAGUAR, WITCHFYNDE kiểu cách, DIAMOND HEAD tài nghệ không lường, ANGEL WITCH tiềm tàng đầy năng lực, WITCHFINDER GENERAL với âm thanh nặng trĩu cùng xuất hiện trong thời kỳ này đã báo hiệu một vị trí vững chắc của Heavy Metal và đảm bảo sự tiến triển không ngừng của nó trong thế giới âm nhạc.
Tại Mỹ, cũng trong thập niên 80, thể loại Pop/Glam Metal đã bùng nổ biểu hiện như một sự trả miếng cho sự kiện vừa nói trên. VAN HALEN có mặt từ năm 1978, đã gầy dựng được một ban nhạc chuyên chơi ngoài trời tại các sân vận động, làm mê đắm thế giới qua tiếng đàn phù thuỷ của Eddie Van Halen và những màn trình diễn cuồng nhiệt của David Lee Roth. Ban nhạc JOURNEY nổi tiếng với tiếng đàn keyboard đã bán hàng triệu dĩa kể từ khi ra đời năm 1972. Các ban như ANGEL và FOREIGNER bắt đầu thâm nhập làng nhạc metal trong khi MONTROSE đã vững chân đi vào huyền thoại. Thực sự các fan đã trông đợi và hài lòng với sự xuất hiện của MOTLEY CRUE và RATT xuất thân từ Los Angeles với những bản nhạc lôi cuốn qua những tiếng đàn ngọt dịu mang âm hưởng của các ban cựu trào Anh quốc như SWEET và T-REX. Ngoài ra, 2 ban nhạc Mỹ quốc này còn gợi đậm trong trí nhớ của khán thính giả hình ảnh không phai nhòa của ALICE COOPER, DAVID BOWIE, NEW YORK DOLLS, KISS và GARY GlLITTER. Nhưng trong số đó cũng có những ban nhạc Glam Metal lại tỏ ra quá hào hứng đến độ cái gì cũng đeo lên người, ngoài quần áo da còn có lưới đánh cá, băng quấn ngang trán, đế giày đầy đinh nhọn, kể cả trang sức phụ nữ (!) và phấn son loè loẹt. MOTLEY CRUE có lẽ là một trong những ban ngự trị trên đỉnh cao âm nhạc thể loại Pop Metal thời 80 mà năm 83 đã gây một thành tích vẻ vang cho phong trào Metal Los Angeles qua đĩa "Shout At The Devil". Sự thành công này đã mang Heavy Metal hoàn toàn trở lại trên thương trường đồng thời gián tiếp giúp đỡ cho ban nhạc RATT đã bị đẩy lùi vào bóng tối và TWISTED SISTER cũng như QUIET RIOT cũ kỹ trở về với vị trí sáng ngời của họ. Những bài "Round and round", "We're Not Gonna Take It" và "Cum On Feel the Noize" đã đưa đến thành công cho các ban nhạc đến khắp thế giới và có ai ngờ, đã lót đường cho một hiện tượng mới ra đời: BON JOVI.
Bon Jovi (83) thành công chỉ kém DEF LEPPARD (77) một hạng, đã bán hàng triệu đĩa nhạc này sang hàng triệu đĩa khác, nghĩa là đã sáng tác hết "top ballad" này đến "hit ballad" khác liên tục không ngừng. Đĩa "Slippery When Wet" và "New Jersey" của Bon Jovi đã gây sóng gió trở lại thế giới như DEF LEPPARD khi xưa với đĩa "Pyromania" và "Hysteria". Hai ban nhạc này đã thành công trong việc hòa hợp vị thô chát, chói tai của Metal với tính quyến rũ của âm thanh nhạc Pop tạo nên được một âm sắc hoàn hảo cho giới trẻ đang nghiền nhạc trên MTV thời ấy (dù nhiều ý kiến cho rằng Bon Jovi không phải thực sự là Metal). Trong khi đó, MOTLEY CRUE và RATT đã sáng tạo một phong cách riêng cho nhạc của họ được chứng minh qua tất cả đĩa được phát hành và đạt được thành công rất lâu dài. Điều ấy được ví như là bóng tối của Pop Metal cho dù họ chỉ làm mờ nhạt được những ban nhạc nào không chứng tỏ rõ ràng được thực lực ngang tài. Các ban nhạc như KIX, FASTER P U S S Y CAT và L.A. GUNS không hưởng được một chút vẻ vang nào tuy đã phô trương lực lượng hết mình; trong khi KISS vẫn chứng tỏ được phong cách Pop Metal của họ như trong bài "Heaven's On Fire". Sau đó trong một thời gian dài, phong trào Pop Metal đã làm nhạt nhòa tiếng tăm của các ban nhạc có khuynh hướng và mang chút ít âm hưởng cổ điển như THUNDER, G.U.N và JUNKYARD. Kể cả THE CULT và JACKYL nổi lên đây đó như đang bềnh bồng trên mặt nước…
Tuy thế, Pop Metal dần dà trở nên quá "bình dân" và "hào nhoáng" quá độ nên cần một sức sống mới. Trong khi chính WHITESNAKE (77) là một ban nhạc Glam Metal bền vững từ thời 70 cũng dần dần cô đọng lại sự hiện hữu của mình và tàn lụi dần, người ta đếm lại trên đầu ngón tay và chỉ còn thấy BON JOVI, DEF LEPPARD và MOTLEY CRUE vẫn sống. Cục diện sân khấu bấy giờ cần một sự xuất hiện mới của một nhóm nào đó mà vẻ bóng loáng bề ngoài và sự dễ dãi quá độ là một điều không cần thiết, một ban nhạc nào đó chỉ cần nhô ra từ những con phố tối tăm và nhớp nhúa thôi. Và đó là GUNS n´ ROSES!
GUNS n´ ROSES là những gì mà Pop Metal đang khao khát chờ đợi. Đĩa "Appetite for Destruction" năm 87 là một loại sắt nung cháy bỏng, khô, chai cứng qua tiếng đàn ghi-ta của Shash đượm đầy nét blues và giọng ca của Axl Rose cất lên như cả thân người chỉ muốn treo tạm lên cây hoặc bám víu sơ sài vào cuộc đời này. Họ chen vào giữa ánh đèn sân khấu của các ban nhạc như HANOI ROCKS, THE ROLLING STONES và AEROSMITH với những bài như "Welcome to the Jungle", "Night Train" và "My Michelle" hoặc bài "Sweet Child O' Mine" thật là êm dịu. GUNS n´ ROSES đã vực lại được sự chú ý của thính giả và cứu nguy cho Pop Metal đang gần như bị dập tắt trên thương trường. Họ đã song song với MOTLEY CRUE làm chủ sân khấu trong khi DEF LEPPARD và BON JOVI đang tận hưởng sự nghỉ ngơi của mình rất dài lâu.
Sự xuất hiện của GUNS n´ ROSES không ngăn chặn các ban nhạc khác cùng đến. POISON và WARRANT là một trong những ban nhạc đáng kể trong số đó, mặc dù họ chẳng có gì hoàn toàn mới trong các sáng tác mà phải gọi là bình thường và dễ thuộc lòng, nhưng chính vì cách trang điểm và phục trang rực rỡ của họ đã gây chú ý và được phê bình rất kỹ. WHITE LION (83) cũng là một ban nhạc Pop Metal với các ca khúc hơi nhàm chán vì lập đi lập lại, tuy thế cũng có những bài gây xúc cảm mãnh liệt như là "Lights and Thunder", "If My Mind Is Evil" và "Leave Me Alone". Trong khi đó, người ta được thưởng thức một âm thanh dịu dàng của CINDERELLA qua một chuỗi những đĩa nhạc phát hành đều đặn, kể cả TESLA (85) cũng chơi nhạc giống như vậy. Tại Đức phải kể đến ban nhạc DOKKEN tràn đầy kinh nghiệm với tay ghi-ta George Lynch cùng với nghệ thuật trình tấu sống động cao độ mà ta không quên qua bài "Alone Again" chỉ chịu xếp sau bài "The Final Countdown" của EUROPE xuất thân từ Thuỵ Điển. Các ban nhạc như STRYPER, WINGER, GREAT WHITE, Mr. BIG, BAD ENGLISH, DAMN YANKEES và SLAUGHTER cũng góp phần hiện diện quan trọng trong vũ đài này. Nhất định không quên phải kể đến là ban nhạc SKID ROW với thành phần ban nhạc thay đổi như một trò mạo hiểm táo bạo sau sự thành công rực rỡ của đĩa nhạc đầu tay mang cùng tên ban nhạc.
Pop Metal còn đa dạng, mềm mại hơn khi các ban nhạc nữ bắt đầu xuất hiện nối tiếp sự nghiệp của THE RUNAWAYS (75) và GIRLSCHOOL (trong phong trào New Wave of British Heavy Metal). Danh tiếng của họ đã tạo dựng một chỗ đứng vững vàng cho phụ nữ trên sân khấu nhạc Rock. Cô ca sĩ kiêm nhạc sĩ ghi-ta Joan Jett và ban nhạc THE BLACKHEARTS thể hiện đầy sức hấp dẫn trong bài "I love Rock n' Roll", trong khi đó LITA FORD quyến rũ mọi trái tim qua bài "Kiss Me Deadly". Hai thành viên cũ của ban nhạc THE RUNAWAYS không còn nổi tiếng nữa nhưng họ đã cùng với cô ca sĩ Doro Pesch trong ban nhạc WARLOCK (83) tạo được một ảnh hưởng của mình cho nhiều ban nhạc nữ khác như VIXEN mượt mà nhung lụa, L7 với phong cách mới, PHANTOM BLUE (87) huyền ảo và DRAIN S.T.H. (97) với thể điệu đầy ảm đạm.
Ở một nơi khác trong dòng nhạc Rock nghe như đã vang lên âm thanh có phần "nặng" và chất chứa nhiều tính chất “truyền thống” hơn qua những ban nhạc đã tạo nên những huyền thoại trong suốt thập niên 80. Đó là BLACK SABBATH và Ronnie James Dio đã xuất hiện trở lại với dĩa "Heaven & Hell" và "The Mob Rules". Cả hai đĩa được đón nhận nhiệt liệt này cho thấy một thay đổi trong giai điệu du dương hơn cũng như thể loại trình bày. Trong khi đó, Ozzy Osbourne sau khi rời Black Sabbath đã hiến dâng cho những người ham mộ nồng nhiệt của mình những giai điệu không quên như trong dĩa "Blizzard of Ozz", "Diary of a Madman" qua tay đàn mạnh bạo nhưng tuyệt vời của Randy Rhoads. Sự huy hoàng của Heavy Metal còn phải dành một ngôi cho những ban nhạc mới xuất hiện như SAVATAGE, “những ông hoàng sắt” MANOWAR, CIRITH UNGOL và ARMORED SAINT với phong cách riêng của họ. Nhiều ban nhạc lừng danh của thời 70 cũng đã trở lại với nhiều mức độ thành công khác nhau, nhưng không tạo ra được một sự xuất hiện đồng bộ của nền nhạc metal tiền phong, phần lớn bởi vì họ đã đánh mất chất nhạc nguyên thủy của mình hay là chính những cảm xúc mạnh mẽ ban đầu nay không tìm lại được.
Phần 4 : THRASH và POWER METAL
Trong khi Pop Metal bao trùm khắp nơi, các fan của MOTÖRHEAD và VENOM tỏ ra hoang mang khi nhận thấy Metal đã trở nên ngày càng "nhẹ" hơn. Điều đó cũng có nghĩa là đã để cho Pop Metal tiến dần vào dòng nhạc chính. Nhưng họ đã yên tâm nhanh chóng trở lại khi nghe làn âm thanh Thrash/Speed/Power metal trổi lên; dẫn đầu là ban nhạc METALLICA (81). (Power Metal đôi khi được tách rời ra nhóm thể loại này vì đặc điểm "epic" -sử thi- của bài nhạc). Metallica bắt đầu sử dụng kết hợp những đoạn riff phức tạp, giọng ca hệt như đang gầm gừ và dàn trống có hai bàn đạp để tạo ra một âm thanh kiên quyết và hung bạo mà vì thế không được chương trình phát hình MTV cũng như các đài phát thanh ủng hộ. Sau đó một thời gian ngắn, sự phát triển rất mạnh của MERCYFUL FATE và EXODUS (một ban nhạc Thrash Metal quan trọng của vùng Bay Area San Francisco) đã cùng với Metallica hội tụ các fan nghe nhạc "hard metal" lại gần nhau hơn.
Trong thời điểm này, có 3 ban nhạc khác cũng song hành với Metallica là MEGADETH, ANTHRAX và SLAYER. Megadeth được thành lập bởi Dave Mustaine (trước đàn trong ban Metallica) đã tạo ra một âm thanh mà sau này được mệnh danh là Techno-Thrash. Đặc điểm của lối chơi này là thay đổi nhiều nhịp điệu và các đoạn riff cực kỳ phức tạp làm nền cho giọng hát như “gầm gừ” của Mustaine. Trong khi đó, Anthrax chuyên chơi các đoạn riff như đánh tới tấp và thử nghiệm thể loại Rap. Slayer mạnh bạo hơn với những cú riff đập thật mạnh trong khi các thành viên khác khai thác triệt để cái gọi là "hình tượng Sa-tăng". Ban nhạc SUICIDAL TENDENCIES cũng đạt được mức độ thành công đáng kể với đĩa "Lights…Camera…Revolution" kết hợp chặt chẽ ảnh hưởng của thể loại Punk, Alternative, Rap với giọng ca như đang dạo chơi lang thang của Mike Muir. Nếu kể đến TESTAMENT, phải nhắc đến thời giữa những năm 80, họ đã thành công vang dội qua những đĩa như "Pratice What You Preach" và ngay cả đĩa "Souls of Black" dù không thỏa mãn yêu cầu của các fan hoàn toàn. Phải nhấn mạnh thêm, Testament đã được mệnh danh là 1 trong 4 ban gọi là "Big Four" (Tứ Trụ) của thể loại Thrash trước khi Slayer vượt qua mặt với tuyệt phẩm mà ai cũng cho rằng là một trong những đĩa nhạc Thrash hung bạo nhất đến nay: "Reign In Blood" (86).
Toàn bộ phông cảnh này sẽ bị hạ xuống từ lâu nếu không có sự ủng hộ của cả một hậu trường kỹ thuật vĩ đại mà các bài thử nghiệm (demo) và thu âm chính (record) được nhanh chóng trao đổi cũng như được phân phối khắp toàn thế giới. Các ban nhạc như EXCITER, OVERKILL, NUCLEAR ASSAULT, DARK ANGEL và một số ban khác tuy không nổi tiếng rầm rộ nhưng cũng được biết đến qua thể loại Thrash này đã tạo được sự phát triển của phong trào một cách mạnh mẽ. Thêm vào đó, ngoài các ban nhạc chiếm chủ lực trong vùng San Francisco Bay Area nói trên, nước Đức đã bồi dưỡng cho sự nhiệt tình sôi nổi toàn diện trên thế giới được gọi là quan trọng nhất trong bức màn Thrash Metal này với sự ra đời của những ban nhạc như DESTRUCTION, KREATOR, TANKARD và SODOM. Sự cung cấp tài năng cho phong trào này giống như là tiêm thêm một liều thuốc vào sự kiện mà thời đó được gọi là "Teutonic Thrash" (teutonic = thuộc chủng tộc Đức). Nhưng tóm lại, mặc dù thế, Thrash Metal vẫn chưa đạt được tuyệt đỉnh huy hoàng mà nó đang cố gắng phấn đấu…
Cuối cùng, năm 1986, Thrash Metal mới thành công thực sự với siêu phẩm "Master Of Puppets" của Metallica. Đĩa này đã mang lại một đĩa vàng cho họ sau khi bán được trên 500.000 đĩa. Sự kiện này đã phóng nhanh Slayer, Anthax và Megadeth vào quỹ đạo; kể như Thrash Metal đã hoàn toàn làm chủ trên thương trường. Câu trả lời cho Pop Metal đã thỏa đáp bởi sự hình thành một thể loại âm nhạc ác liệt nhất và nhất định không nhượng bộ! Tuy vậy, cũng giống như Pop Metal, có rất nhiều ban nhạc xuất sắc khác không đạt được đúng sự mong muốn của họ, thí dụ như FLOTSAM & JEZSAM, WRANTHCHILD AMERICA, SACRED REICH, ANVIL, CORONER và MEKONG DELTA. Họ đã sáng tác nhiều đĩa thật hay nhưng không bao giờ được ủng hộ đầy đủ. Ban nhạc VOIVOD cũng không được đón nhận hoàn toàn sau khi đã chuyển sang hướng Progressive Thrash Metal. Một thời gian sau đó, ban nhạc ANGEL RAT đã làm nổi bật một dòng âm thanh khác lạ đối nghịch với những ban sáng chói như DIMENSION HARTOSS và NOTHINGFACE, nhưng tiếc thay, họ không xâm nhập được thị trường như ước muốn.
Một khuynh hướng khác bất ngờ xảy ra trong những năm cuối thời kỳ 80 chiếm được ảnh hưởng sâu đậm trong làng nhạc chính là Power Metal. Đó là một thể loại dựa trên "tốc độ nhanh" và "âm thanh m
to fik:tớ có đĩa hammer fall đấy-"renegade".........nghe đĩa này chưa,có bài A legend reborn hay lắm..........tóm lại đặc chất power,hoành tráng như 1 bản trường ca anh hùng,đúng chất mình thích!
lại thêm kamelot nữa,tụi này tuy là một band mỹ những chất power lại mượt và thuần như châu âu vậy,ko phá cách như power của Manowar.........nghe bản A sailor man's hymn chưa? tch tch...........một bản ballads tuyệt cú mèo,ngọt ngào cho mọi thành phần,cho người yêu nghe thì thôi rồi..........
to MU.one:bác thích power à?
thế thì đẩy mạnh nghe thêm helloween đi,thêm mano,kamelot,lake of tears hay hammer nữa,đảm bảo bác chết giấc với power luôn,giọng cao và trong như mật ý!.........
thôi anh em bàn tiếp đi,tớ đi nghe đây!!!
boypone101
01-08-2007, 08:40 PM
Aerosmith+Metallica+Statovarious là tuyệt vời nhất. Ai ko nghe phí cả đời.
đã có ai xem clip bài no return của absurb chưa??
ai có thì share cho tui với
DevilCry
01-15-2007, 11:35 PM
Metallica thì khỏi nói rồi. Ngoài ra tui còn khoái Cradle of Filth và Pantera nữa, xem video mấy bọn này thì hơi "tởm" nhưng vẫn sướng những đoạn "rặt rũ"....
fikdevil
01-15-2007, 11:42 PM
oài topic mình ở đâu đc lôi lên thê này :D
đang trong nghe nhạc cải lương thui tạm thời cai rock 1 thời gian ;))
Hupa224
01-21-2007, 10:37 AM
Lúc đầu tui nghe Scorpions, nghe từ những năm học lớp 7 mới máu. Sau này đến lớp 12, nghe nhạc dịu dịu mãi cũng chán. Đến lúc nghe Manowar rồi Metallica thì kết đứng tim.
Tui kết nhất album Load của Metallica, còn bài hát thích nhất là November rain của G&R
Có ai thích November rain không nhỉ?
mưa tháng 11 thì ai cũng thích,ko phải bàn rồi.....
còn album tâm đắc với metallic thì tớ thấy thích Kill 'em all và Ride the lightning.........thôi rồi!
manowar thì khỏi bàn tiếp,bộ tứ thần thánh của extreme power,dòng nhạc dành riêng cho manowar!
kiếm mãi mới đc mấy hình của evan........
http://img134.imageshack.us/img134/3847/006ki8.jpg
amy lee
http://img208.imageshack.us/img208/1498/003tr3.jpg
http://img130.imageshack.us/img130/9746/005lk7.jpg
bìa album the open door
http://img239.imageshack.us/img239/8813/bgby8.jpg
http://www.wallpaper-area.de/wallpaper/7/68/Evanescence_005.jpg
http://www.notachristianband.com/fav-myimmortal.jpg
http://www.notachristianband.com/fav-broken.jpg
http://cliques.spinsugar.com/evanescence/head.gifhttp://photos.streamphoto.ru/c/8/1/230f7a73ffb61e392e1bea5b2575818c.jpg
http://img.photobucket.com/albums/v359/annie252/Pictures/amy_lee2.jpg
thế có lấy linkinpark nữa ko?
chester
http://www.akkords.ru/l/linkin_park/2009.jpg
http://rewaskalp.album.cz/chester-bennington/tt0aefaac4622a63a8.jpg
hybrid theory
http://www.rpn.ch/csc/aco/01_02/images/linkin%20park%204.jpg
http://images-jp.amazon.com/images/P/3832715088.01.LZZZZZZZ.jpg
meteora-album mà tớ cho là hay nhất của LP:
http://www.irocknroll.com/images/Linkin_Park_Signed_Meteora_CD.jpg
westlife_manutd
02-22-2007, 07:52 PM
trùi ui, trừ westlife ra em chỉ mê rock, rock rock và rock
Rock của em ở đây là Gotic, metal
ặc. Savatge, các bác nghe album Streets chưa. Phê không thể tả
Sau đó hãy chuyển snag nghe éinamkeit của Lảcimasa
thực ra mà nói november rain cũng tuyệt pahỉ nỗi cací clip làm em nằm mơ ác mộng
nghe rock là phải rock chân chính
savatage..............ghê nhỉ,nghe savatage cơ à?nhưng savatage hình như là progressive mà,có phải gothic đâu?
nếu thích gothic,nghe within'temptation,night wish đi
lacrimosa cũng hay đấy!
nhưng rock chân chính là gì nhỉ?:-??
westlife_manutd
02-25-2007, 01:51 PM
thì có nói Sava là gotic đâu
Temptation có mother earth và ice queen hay the Promise phê vãi lúa
nghe mòn rồi mà
lảcimóa quá hay chứ không pahỉo là hay. Nhưng cái đãi hay nhất là ELODIA chứ không phải EINSAMKEIt như mọi người nghĩ. Vì ELODIA hoàn hảo quá nên nghe cũng không thể thấy hết cái hay
rock chân chính là những gì ta thấy nó ý nghĩa, chư skôhng phải mấy con điên lên sân khấu gào rú, nhảy nhót làm mất đi cái hay của ALTERNATIVE
Có ae nào bít làm ơn chỉ e về các thể loại Rock với!Mới nghe nên chưa rành,chả phân biệt đc loại nào với loại nào cả.Hic
sưu tầm đc mấy bài này hay quá,post lên cho cả nhà cùng đọc!
http://www.voicesfromthedarkside.de/pix/death-logo.jpg
“Whoever Fights Monsters, Should See To It That In The Process He Does Not Become A Monster… And When You Look Long Into The Abyss, The Abyss Also Looks Into You."
Friedrich Wilhelm Nietzsche
Những từ ngữ nào có thể thích hợp để mở đầu cho câu chuyện kể về một truyền thuyết vĩ đại? Thật xúc phạm khi chỉ nói Death là một trong những ban nhạc xuất sắc nhất, Death không chỉ là một ban nhạc như vậy, Death là một hiện tượng phi thường và đối với các fan còn là một tôn giáo. Death - câu chuyện kể về một người đàn ông với tài năng kiệt xuất làm việc không mệt mỏi đưa Death từ trong bóng tối một ban nhạc thiếu niên chơi trong nhà kho đến ánh hào quang của một truyền thuyết sống. Với tất cả giai điệu và lời ca, Death được duy trì duy trì bởi thủ lĩnh Chuck Schuldiner -người sáng lập và là thành viên duy nhất còn lại từ thuở ban đầu. Chuck và Death là hai từ ngữ mà từ lâu đã trở nên đồng nghĩa với nhau. Người ta đã từng ví von các buổi hoà nhạc của các ban nhạc thuộc dòng Death Metal cũng giống như khi các máy bay phản lực cất cánh, và thậm chí là hàng chục chiếc cùng một lúc. Với những nhịp trống chân dồn dập, những đường solo bằng tay nhanh mạnh như vũ bão, làm bật nên tiếng Chord của đàn guita càn lướt mãnh liệt....tất cả tạo nên một nền tảng cho một cơn bão âm thanh khổng lồ đổ ập vào đám đông tín đồ đang cuồng loạn......Tất cả lại có vẻ khác đối với Chuck. Ðường nét kinh điển trong Heavy Metal và Hard Rock cổ dường như vẫn khẳng định được sức mạnh và ưu thế của mình, khi thông qua ngón đàn tài hoa của Chuck, âm thanh của những đường solo trữ tình chạy song hành cùng tiếng Chord mạnh mẽ của bè guita còn lại , kết hợp với các ca khúc mạnh mẽ, nhưng rất có giai điệu đã tôn vinh vai trò của Death tới một vị trí mà không một ban nhạc nào cùng thế hệ có thể sánh được.
Nhân tố sau cùng là cái gì có thể để riêng Death ra một bên với tất cả những cái khác, giữa bi quan và chỉ trích, có nhiều ca khúc gây cảm xúc cho các fan với hi vọng, tư tưởng đúng đắn và sức mạnh đối đầu với thực tế. Và hai thập niên 80 - 90 qua đi, người hâm mộ đã được chứng kiến sự nhiều dòng Metal khác nhau lần lượt bước lên đỉnh cao của danh vọng, cũng như Death Metal đã không tiến triển đến ngày hôm nay nếu như ban nhạc Death không ra đời, không có nhiều ban nhạc để lại những ảnh hưởng và cảm xúc từ lúc bắt đầu và tiến triển trong thể loại này như Death đã làm. Không đắn đo khi nói Chuck Schuldiner đã dựng lên một trong những tượng đài vĩ đại nhất của Death Metal. Dù cho Death Metal ở buổi đầu có tiếng xấu, Death vươn lên từ bóng tối và trở thành một huyền thoại. Cho dù trăm năm nữa, khi một ai đó lần đầu nghe Death Metal rồi chợt hỏi người đi trước "Death Metal bắt nguồn từ khi nào?" thì câu trả lời sẽ là "Đó như một câu chuyện thần thoại kể về một người anh hùng.... Và Metal cũng trổi dậy từ lúc đó...."
Vào đầu thập kỷ 70, Black Sabbath đã rất thành công trong việc đặt nền móng đầu tiên của Metal qua tiếng đàn guitar của Toni Iommi. Thật không sai lầm khi nói "Họ là vị cha già của Metal". Đến cuối thập kỷ 70, một số ban nhạc như Venom, Judas Priest, Iron Maiden và một số các ban nhạc khác từ làn sóng các ban nhạc Heavy Metal ở Anh, họ chính là người dẫn đường cho hàng loạt các ban nhạc Speed/Thrash Metal sau này mà tiêu biểu là Metallica với "Kill Em All", một số ban nhạc thời khác như Slayer, Exodus.
http://www.voicesfromthedarkside.de/pix/death3.jpg
Trong khi đó, tại Tampa (Florida) vào năm 1983, ban nhạc học sinh Mantas gồm ba thành viên ở tuổi 17, các thành viên của Mantas gồm: Kam Lee chơi trống và hát, Chuck Schuldiner và Rick Rozz chơi guitar. Mantas ghi âm bốn ca khúc có tựa "Death By Metal" vào năm 1983. Tại nhà giữ xe của Chuck, Mantas bắt đầu chơi nhạc và ghi âm trong một cuộn băng. Cũng thời gian đó, cũng có một ban nhạc học sinh tại San Fransisco là Possessed. Cùng với Hellhammer (về sau là Celtic Frost) và Venom, có thể bốn ban nhạc là những người đi tiên phong cho thể loại Metal nhanh, mạnh mà bây giờ chúng ta biết. Thời gian sau, Mantas đổi tên thành Death.
Năm 1984, Possessed, Celtic Frost và một vài ban nhạc đã có những album làm bước đệm cho buổi đầu của Death Metal. Tuy nhiên, họ chưa thật sự thành công. Possessed cho ra abum "Seven Churches" với hãng Combat. "Seven Churches" đã tạo ra bước khởi đầu và để lại rất nhiều ảnh hưởng cho các ban nhạc Death Metal của Mỹ sau này. Tuy nhiên, mãi cho đến khi Death cho ra album đầu tay "Scream Bloody Gore", Death Metal mới thật sự được biết đến như một thể loại mới.
Trở lại với Death lúc chưa ra album này, họ ghi âm hai ca khúc mới là "Reign Of Terror" và "Infernal Death" vào năm 1984. Sau vài ca khúc nữa, Chuck Schuldiner có ý định chuyển đến San Fransisco nhưng hai thành viên còn lại ở lại Florida thành lập nhóm với Massacre với Terry Butler và Bill Andrews. Trong khi đó, tại Fransisco, Chuck thành lập ban nhạc với John Hand chơi guitar và Chris Reifert chơi trống. Lúc đó, Chuck định mời tay bass Steve DiGiorgio của nhóm Sadus tham gia. Nhưng sau khi chuẩn bị xong xuôi. Chuck quyết định hát, chơi guitar chính và kiêm luôn vai bass trong album đầu tiên của Death. Death cho ra một ca khúc nữa "Mutilation" rồi ký hợp đồng với hãng Combat. Sau này, Chuck nói lúc đó còn thiếu kinh nghiêm, album đầu tay soạn đơn giản. Lời nhạc trong album là hình ảnh trong các bộ phim kinh dị, lời ca rất nhạt nhẽo, chán ngắt và chịu ảnh hưởng rất nhiều của Possessed. Ngay từ buổi đầu, Death Metal đã có tai tiếng, kết qủa của những hình ảnh bệnh tật và lời ca đen tối của Venom, Possessed, Hellhammer. Các ban nhạc vùng Scandinavia có tư tưởng tôn thờ Sa Tăng và chống đối Thiên Chúa Giáo.
Tóm lại, một trong những vị vua của Metal đã xuất hiện, truyền thuyết vĩ đại chỉ mới ở chương đầu. Những ai theo cùng Death từ thuở ban đầu cho đến ngày cuối cùng sẽ thấy rõ rệt từng bước thăng trưởng của Death. Có nhiều ý kiến khen lẫn chê về album đầu tay của Death, theo tôi thì sự khởi đầu như vậy là thành công vì lúc đó Chuck mới 18 tuổi. Đây cũng là một nỗ lực rất lớn của Death và các ban nhạc khác vào thời kỳ đó. Có lẽ thật khó mà tin được chỉ vài năm sau khi Thrash Metal, thể loại Death Metal nhanh, và khốc liệt đã nhất ra đời.
http://www.voicesfromthedarkside.de/pix/death12.jpg
Thành phần ban đầu nhanh chóng giải tán, Chuck quay trở lại Florida làm việc với nhà sản xuất nổi tiếng Scott Burn. Chuck mời các thành viên của nhóm Massacre (trừ Kam Lee) tham gia: Rick Rozz chơi guitar, Bill Andrews (trống) và Terry Butler (bass). Sau vài buổi biểu diễn, Chuck bắt đầu chuẩn bị cho dĩa nhạc mới, Death ghi âm ba demo "Left To Die", "Born Dead" và "Pull The Plug" thăm dò thi trường theo yêu cầu của Scott Burn. Năm 1988, Death tiếp tục làm rung chuyển thế giới lần thứ hai với "Leprosy". Nhạc đã tiến triển hơn rất nhiều, tiếng rít nhanh và mạnh hơn, các ca khúc có cấu trúc hoàn thiện hơn so với album đầu. Tiếng trống bass đôi chạy cùng với những câu lead cứng cáp làm thành dĩa nhạc dài khoảng 40 phút đưa người nghe lên thiên đường. Lời nhạc cũng có sự khác biệt với "Scream Bloody Gore". "Leprosy" qua hình ảnh ghê sợ của bệnh phong như ẩn ý về thái độ và sự thân ái trong xã hội.
"Sense of feeling soon to be gone
Life will never last"
"Open Casket" là suy nghĩ châm chọc về những gì sắp xảy ra và tính bất định của cuộc sống.
"Death is oh so strange
The past no one can change
What you can't predict
Is how long you'll exist"
"Left To Die" về sự vô lý của chiến tranh và người lính bị đem làm con chốt thí như thế nào?
"Bodies fall onto the ground
Blood flies through the air
Shedded victims lie in pain
Death is never fair"
Và "Pull The Plus" tranh luận về sự lựa chọn thiên mệnh riêng của người đàn ông, không phụ thuộc vào những quyết định gì khác.
"Once I had full control of my life
I now behold a machine decides my fate
End it now it's all too late"
http://www.voicesfromthedarkside.de/pix/death7.jpgNhìn chung, "Lepsory" có đủ mọi yếu tố để lấy làm tiêu chuẩn cho một dĩa Death Metal kinh điển. Cuối năm 1989, quan hệ giữa Chuck và Rick Rozz trở nên căng thẳng và Chuck quyết định cho Rozz ra khỏi ban nhạc. Vài tháng sau Chuck nói "Rick Rozz phải ra đi vì những gì anh ta đã làm. Chúng tôi đang trong qúa trình phát triển để thành một ban nhạc và những nhạc công tài giỏi hơn còn anh ta thì hoàn toàn không".
Rick Rozz được thay thế bởi tay guitar lừng danh James Murphy (sau này chơi cho Obituary và Testament). Năm 1990, Death cho ra dĩa thứ ba "Spiritual Healing", tiếng guitar solo có phần dịu hơn so với hai dĩa trước. Nhạc điệu biến đổi giữa nhanh và chậm, những câu lead nhanh và lôi cuốn. Chuck thể hiện tức giận và mỉa mai trong lời nhạc, chủ đề của các ca khúc sâu đậm và thực tế. "Spiritual Healing" chỉ trích sự cuồng tín *** muội và những con người với niềm tin mù quáng bị bóc lột bởi tôn giáo.
"Blinded by the twisted ways you live
Kill for religion, will the Lord forgive ?
Idiocy has stricken your mind"
"Living Monstrosity" nói về những bà mẹ nghiện ngập sinh ra những đứa trẻ có hình thù quái dị: "Born without eyes, hands, and a half a brain. Being born addicted to cocaine"
Và "Altering The Future" nêu bật câu hỏi rất thâm túy.
"Death and life taken so easily
Right or wrong, whose choice will it be ?"
Con nguời và những điều giả tạo được lấy làm chủ đề cho ca khúc "Low Life".
"Fake is a word you represent
Your existence on earth I resent
At the cost of others you get by
Each word that you speak is a lie"
http://www.voicesfromthedarkside.de/pix/death11.jpg
"Spiritual Healing" là điểm quan trọng trong sự nghiệp của Chuck. Từ album này, với dĩa nhạc này, Death xứng đáng là ban nhạc xuất sắc vào thời kỳ đó và những dĩa tiếp theo chứng minh Death là một trong những ban nhạc Death Metal xuất sắc nhất. Sau đó không lâu, Chuck chịu đựng thời điểm tồi tệ nhất trong sự nghiệp. Sau chuyến biểu diễn ở châu Âu, Terry Bulter là Bill Andrews quyết định trở lại với nhóm Massacre còn James Murphy tham gia vào Obituary. Cùng lúc đó, Death nhận được một số lời chế diễu từ các đài phát thanh.
Cuối cùng, Chuck quyết định làm lại từ đầu với Death. Ngay năm sau, Chuck mời hai thành viên Sean Reinert (trống), Paul Masvidal (guitar) của ban nhạc Cynic từ thành phố Miami và tay bass Steve DiGiorgio từ nhóm Sadus tham gia. Sean và Paul giúp Chuck lên chương trình cho album kế tiếp, đưa thêm những nét mới vào trong nhạc mà Death chưa có ở những dĩa trước. Lúc này, hãng Combat sát nhập vào hãng Relativity, Death chính thức kí hợp đồng với hãng Relativity. Năm 1991, dĩa nhạc mạng đầy tính triết học của Death, "Human" ra đời. "Human" mang đến nhiều nét độc đáo, với những đoạn nhạc nặng, nhanh và phức tạp , tiếng guitar dày, mạnh và vững chắc, bass và trống đầy uy lực nghe như tiếng ngựa phi. Lần đầu tiên, Death, Thrash và Progrressive hoà trộn với nhau. Sự nghiệp của Death đi sang một chương mới. Lời nhạc trong "Human" chủ yếu nói về xã hội loài người. Trong đoạn độc tấu "Cosmic Sea", Scott Carino chơi bass thay cho Steve
Trong "Suicide Machine", Chuck lặp lại chủ đề của "Pull The Plug", mỉa mai xã hội đương thời.
"But when it comes to wanting out"
Those with power, will be there
Prolong the pain
How long will it last ?
Suicide Machine
A request to die with dignity
Is that too much to ask ?"
"Lack Of Comprehension" nói về cái tôi của con người, sự mù quáng trong hoàn cảnh dẫn đến việc làm gây ra tội lỗi.
"Lies
Right before your very eyes
A reflection of the mistakes
To the end you will deny
Your part in the demise of a life"
Thói gian trá trong xã hôi, con người ta phản bội lại những gì mà họ tin tưởng được suy xét trong "Secret Face".
"Vulnerable through trust
Life is a twisted maze of obstacles
Presented by people with a secret face"
"Vacant Planets" như lời tiên tri giải thích lòng tham sức mạnh, quyền lực, ham muốn thống trị sẽ dẫn đến sự sụp đổ như thế nào?
"Limiting our passages of thought
Are they examples of regression
A life form's abusive progression"
"See Through Dreams" thuật lại nỗi đau trả giá cho cái lơi nhỏ nhoi, khuyên chúng ta giữ lấy những gì mình đang có.
"Close your eyes and imagine to be without
What we take for granted every time we open our eyes"
Lúc bấy giờ, Death Metal phát triển rực rỡ, "Human" và hàng loại các dĩa nhạc Death Metal khác đưa thể loại này vang xa khắp thế giới, kể cả ở châu Á. Sau khi hoàn thành "Human", Death thực hiện một video đầu tiên "Lack Of Comprehension". Cũng trong năm 1991, nhóm Cynic kí hợp đồng với hãng RoadRunner, sau khi thực hiện chuyến đi với Death tại châu Âu, Paul và Sean trở lại với Cynic chuẩn bị cho dĩa nhạc mới của họ. Chuck lại tìm thành viên mới, lúc bấy giờ ban nhạc Thrash nổi tiếng Dark Angel vừa tan rã, Chuck liền mời tay trống của Dark Angel là Gene Hoglan tham gia chơi cho Death. Thành phần mới của Death còn có tay guitar lừng danh của King Diamond là Andy LaRocque góp mặt. Death lại chuẩn bị cho ra album mới. Năm 1992, hãng Relativity phát hành album "Fate-The Best Of Death" tuyển chọn 10 ca khúc tiêu biểu của Death trong 4 dĩa trước đó.
http://www.voicesfromthedarkside.de/pix/death18.jpg
Năm 1993, Death lại một lần nữa làm nên lịch sử với "Individual Thought Patterns". Dĩa này êm dịu hơn các dĩa trước nhưng kĩ thuật điêu luyện của ba tay nhạc công thượng thặng cùng với Chuck làm nên tên tuổi của một ban nhạc vĩ đại. Sau khi phát hành, Death làm video thứ hai "The Phisolopher". Giọng hát của Chuck mạnh, giận dữ, tiếng guitar hao hao giống với "Human", Death chứng minh mình vẫn luôn tiến triển về mọi mắt. Chủ đề trong dĩa này, hầu hết tập trung vào tâm lý, trí tuệ và động cơ hành động của con người. "Overactive Imagination", châm chọc những tâm hồn yếu đuối, giả dối và những kẻ ngụy tạo không bao giờ hiểu được mình là ai, luôn lừa dối chính mình và người khác.
"Mastering the art of deception
That increases your sick addiction
It's an overactive imagination that enslaves your empty shell"
Lòng tham quyền lực, suy nghĩ tự cho mình là đúng dẫn đến những việc làm tai hại được suy xét trong "Mentally Blind".
"You see your visions and no one else's
Your every word filled with sarcasm
Crucify people with invisible knowledge"
"The Philosopher" nói về những gì mà người ta biết nhưng không hiểu một cách đúng đắn
"Lies feed your judgement of others
Behold how the blind lead each other
The Philosopher
You know so much about nothing at all"
Sau nữa nhưng vẫn chưa hết, Destiny vô cùng truyền cảm và sâu lắng, Chuck khắc sâu hình ảnh của Metal.
"I believe behind confusion awaits the truth for us. Past the obstacles we face. Destiny is what we all seek. Destiny was waiting for you and me."
http://www.voicesfromthedarkside.de/pix/death25.jpg
Steve và Andy trở lại với ban nhạc cũ của họ, Chuck và Gene lại tìm thành viên cho dĩa nhạc mới. Death và hãng Relativity nảy sinh nhiều bất đồng, theo xu hướng rất nhiều ban nhạc Metal ký hợp đồng với RoadRunner, Chuck muốn chuyển sang ký hợp đồng với hãng RoadRunner. RoadRunner bắt đầu quá trình làm việc với Relativity để chuyển Death sang một bản hợp đồng mới. Trong thời gian chờ đợi Chuck và Gene soạn nhạc và tìm kiếm thành viên mới. Sau một thời gian, Chuck mời Kelly Conlon (bass) và Bobby Koelble tham gia.
Sau một thời gian chuẩn bị, Death vào phòng thu âm với thành phần mới. các thành viên chơi cho Death không khi nào ổ định nhưng tất cả họ đều góp phần đưa Death trở thành một tên tuổi vĩ đại. Tháng 3 năm 1995, thế giới chứng kiến tuyệt phẩm xuất sắc nhất của Death, "Symbolic" ra đời. Dĩa nhạc thứ 6 của Death thổi tung cả thế giới, Chuck khẳng định vai trò của mình. Sau nhiều năm nỗ lực, Death thật sự là một huyền thoại sống. "Symbolic" được rất nhiều tạo chí đánh giá là một trong thiểu số album Death Metal hay nhất cho đến thời điểm đó. Death quay trở lại thời gian đầu với âm thanh mạnh mẽ. Các ca khúc là những đoạn nhạc cực lôi cuốn, tiếng guitar đệm nghe như tiếng đàn violon bên canh cây guitar chủ đạo đánh những nốt nhạc cực hay. Trống và bass nghe rì rào như mưa rơi nặng hạt. Giọng hát của Chuck vừa khàn đục vừa chói tai, hoà âm phối khí rất tuyệt. Lời nhạc của Chuck càng lúc càng sâu sắc hơn. Một điều ít thấy trong Death Metal.
Lời nhạc bớt gay gắt so với trước nhưng sâu sắc và truyển cảm hơn. Ca khúc tựa dĩa là mong mỏi về tuổi thơ trong sáng, Chuck nói về những mất mát của tuổi thơ.
http://www.voicesfromthedarkside.de/pix/death1.jpg
When did it begin ?
The change to come was undetectable
The open wounds expose the importance of
Our innocence
A high that can never be bought or sold"
Lại là lời mỉa mai, châm biếm trong "Without Judgement" chế nhại sự bất công của xã hội.
"Guilty until proven innocent
We condemn your soul and fate
Nevermind the possibilities
Too busy for logic or to calculate"
"Crystal Mountain" chỉ trích mánh khóe của những kẻ sự dụng trong tôn giáo để mị dân.
"Inside crystal mountain
Evil takes its form
Inside crystal mountain
Commandments are reborn"
Nhưng truyền cảm nhất là "The Perennial Quest", ca khúc như một lời tự kể của Chuck, suốt bao năm qua Chuck cố gắng không ngừng. Tuyệt vời hơn, "Perannial Quest" nêu bật tính chất trong sự tồn tại của con người, gây cảm xúc dạt dào đối với các fan, làm thế nào giữ lấy lẽ phải và lọc bỏ những cái xấu, làm người nghe như muốn bật ra sức mạnh để đối đầu với thử thách,nghiệt ngã với niềm tin và khát vọng mạnh mẽ.
"Filtering out the bad that holds us back...
Take hold of what is true to your hunger"
Sau chuyến biểu diễn cho "Symbollic", Death lại tan rã một lần nữa, vì chán cảnh ban nhạc liên tục thay đổi, Chuck quyết định làm một dự định khác ngoài Death. Chuck thành lập ban nhạc mới Control Denied nhưng Chuck không muốn đảm nhiện vai ca sĩ, Chuck định mời các ca sĩ nổi tiếng lúc đó như Warrel Dane (Nevermore) hay James Rivera (Helstar) tham gia Control Denied nhưng sau cùng thì Tim Aymar từ nhóm Psycho Scream tham gia làm ca sĩ cho Control Denied.
Tuy nhiên, dự định với Control Denied gặp trục trặc, Chuck quyết định trở lại với Death, thành phần mới gồm tay trống Richard Christy từ nhóm Acheron, Scott Clendenin chơi bass và guitar thứ hai Shannon Hamn. Chuck quyết định làm một di sản sau cùng cho Death. Năm 1997, dĩa nhạc sau cùng của Death "The Sound Of Perseverance" được ghi âm, do rắc rối với RoadRunner, Chuck quyết định nhờ tên tuổi khổng lồ Nuclear Blast phát hành. Mãi đầu năm 1998, dĩa nhạc cuối cùng mới Death mới đựơc phát hành. "The Sound Of Perseverance" như lời nhắn nhủ sau cùng của Chuck với khán giả: "I Am A Past, A Story To Tell". Câu chuyện cổ tích về Death đã kết thúc.
Sau khi chấm dứt Death, Chuck quay trở lại với Control Denied, Chuck thành lập một ban nhạc với phong cách rất khác so với Death, giọng hát của Tim Aymar đặt sệt một ca sĩ của Power hay Progressive. Sau khi chuẩn bị, Chuck mời lại Steve chơi bass trong dĩa mới của Control Denied. Năm 1999, album đầu tiên của Control Denied, "The Fragile Art Of Existence" được phát hành, Chuck làm các fan hết sức ngạc nhiên. Chuck làm một album Power/Progressive thu được rất nhiều thành công. Control Denied chuẩn bị đi biểu diễn thì Chuck phải nhập viện để điều trị một khối u trong não. Sau lần phẫu thuật đầu tiên, hi vọng trở lại với Chuck nhưng không lâu sau, Chuck lại phải nhập viện lần thứ hai. Sau những cố gắng hết sức của các bác sĩ, những lời động viên, Chuck vẫn không thể trở lại với cuộc sống bình thường. Ngày 13 tháng 12 năm 2001, Chuck đã ra đi trong sự thương tiếc của bao người hâm mộ Metal đã mất đi một tượng đài nhưng câu chuyện kể trên sẽ vẫn còn được các thế hệ khán giả của Metal kể lại. "Rest In Peace, Chuck".
http://www.hehemetal.com/band/store/testa.gif
Vào khoảng giữa thập niên '80, Thrash metal đang bước vào thời kỳ hoàng kim của nó. Một loạt những tên tuổi sừng sỏ xuất hiện, chiếm lĩnh sân khấu nhạc metal, đẩy lùi các nhánh khác của dòng nhạc này xuống thứ yếu. Thành phố San Francisco ở bang California được xem là "thủ phủ" của trào lưu này, đặc biệt là ở khu vực Bay Arena, nơi những sàn diễn luôn luôn sôi sục một không khí náo động bất kể là ngày hay đêm . Đây cũng là nơi xuất hiện "Tứ trụ Thrash Metal" của thập kỷ '80 bao gồm : Slayer, Megadeth, Metallica và Anthrax, mặc dù sự thực là trong bốn nhóm trên không có nhóm nào được thừa nhận là đã "châm ngòi" cho trào lưu này (công lao đó theo nhiều người thuộc về một nhóm nhạc ít nổi tiếng hơn nhiều đó là Exodus). Điều đó không có nghĩa rằng một ban nhạc không lọt được vào Tứ trụ lại là một ban nhạc bình thường. Trường hợp đó đã xảy ra với Testament, một nhóm nhạc đã đặt được dấu ấn riêng của mình trong dòng Thrash nói riêng cũng như Metal nói chung. Đã có lúc trong sự nghiệp của mình, Testament tiến nhanh như sao chổi thậm chí đe doạ cả thế thượng phong của chiến hữu Metallica nhưng đáng tiếc là ban nhạc đã không thể vươn tới đỉnh cao vì lúc họ đang ở trong quỹ đạo của thành công cũng là lúc mà thể loại Thrash metal đã mất đi sức quyến rũ của nó. Bánh của cỗ xe Testament đã bị trật khỏi đường khi đang phóng với tốc độ cao. Trong khi Metallica quay trở lại với các chất liệu Hard Rock truyền thống để rồi lôi kéo thêm được rất đông khán giả của dòng chính thống, Megadeth nhanh nhạy đưa vào nhạc của mình những chất liệu hợp thời...thì Testament vẫn mải mê khám phá những cái gì thuộc về Thrash thuần chất . Hệ quả là tiếng tăm của ban nhạc ngày càng mờ nhạt, mặc dù những fan "die-hard" của Thrash Metal vẫn trung thành với họ...
Trở lại với năm 1983, được tạo cảm hứng từ nhóm nhạc Thrash lừng danh của vùng Bay Arena là Exodus; năm chàng thanh niên bao gồm Steve Souza (ca sỹ), hai cây guitar Eric Peterson và Derrick Ramirez, bassist Greg Christian cùng tay trống Louie Clemente đã thành lập nên nhóm Legacy - tiền thân của Testament. Nhưng trong hai năm đầu, như bao nhiêu nhóm nhạc khác ở san Francisco chơi một thứ nhạc Thrash "theo kiểu" Metallica, Legacy chẳng gây được tiếng tăm gì. Mọi chuyện chỉ thay đổi khi tay guitar tài năng nhưng mặt lúc nào cũng cau có Alex Skolnick gia nhập vào nhóm và ban nhạc đổi tên từ Legacy (Di sản) sang Testament (Di chúc). Với lối chơi cực kỳ sáng tạo và có "chiều sâu" của Alex, Testament đã vượt qua hàng loạt các nhóm làng nhàng khác, thậm chí là những tên tuổi trước đây nổi hơn họ nhiều như Forbidden hay Vio-Lence để giành được sự kính nể trong giới metal chuyên nghiệp tại Bay Arena
Năm 1986, khi mà ban nhạc đã có đủ động lực cần thiết để giành được một hợp đồng thu âm "xịn" từ một hãng đĩa lớn thì ca sỹ Steve Souza bất ngờ quay lưng lại với nhóm để tới tham gia vào ban nhạc thần tượng của anh ta : Exodus. Nhưng thật mỉa mai vì đó lại là cơ hội để cho Testament có được một ca sỹ ác chiến và "ngon" hơn nhiều đó là Chuck Billy. Anh chàng này quả là một thứ "của trời cho" với giọng ca hiếm có cùng một lối hát thông minh không thể bắt chước được đến nỗi nhiều người coi Chuck là ca sỹ xuất sắc nhất của dòng Thrash metal ( vượt trên cả Tom Araya của Slayer, John Bush của Anthrax và tất nhiên là cả Jaymz Hetfield của Metallica ). Chuck có khả năng thể hiện tài tình những giai điệu lắt léo nhưng việc hát những ca khúc theo kiểu Death metal với anh cũng chỉ là chuyện...nhỏ, không đến nỗi phải tàn phá thanh quản một cách không thương tiếc. Và thế là với ca sỹ mới cùng bộ đôi guitar rất ăn ý Alex Skolnick - Eric Peterson, Testament trở thành một cỗ xe tăng chỉ biết tiến chứ không biết lùi, cho đến năm 1986 họ đã giành được hợp đồng thu âm với "ông lớn" của nhạc metal lúc bấy giờ là Megaforce Records (tất nhiên bây giờ đã phải nhường ngôi cho Nuclear Blast và Roadrunner).
Năm 1987, ban nhạc cho ra đời album đầu tay với cái tên "hoài cổ" là "The Legacy" để ghi nhận quãng đường lao tâm khổ tứ suốt 3 năm vừa qua. Đáng ra album này đã được phát hành trong năm 1986 nhưng Testament đã rất khôn ngoan ém lại một năm.
http://www.testamentlegions.com/legacytn.gif
Lý do thì ai cũng biết : 1986 là năm "hoàng đạo" của Thrash metal với hàng loạt các album "khủng bố" khác như "Master of Puppets" của Metallica, "Reign in Blood" của Slayer , "Peace Sells...But who's Buying?" của Megadeth...Thế cho nên khi xuất hiện vào năm 1987, "The Legacy" đã được chào đón như một album độc đáo , đây là sự kết nối hoàn hảo giữa những cú riff giận dữ và miệt mài với những giai điệu nhạy cảm. Những ca khúc như "Over the Wall", "First Strike is Deadly", "The Hauting", đặc biệt là bản tụng ca bất hủ "Alone in the Dark" đã làm cho tên tuổi của Testament vang đi khá xa. Họ lên đường lưu diễn khắp nước Mỹ và châu Âu trong vai trò hỗ trợ cho "siêu quậy" của dòng Thrash metal Anthrax (năm đó cũng đánh quả lớn với album "Among the Living"). Trong chuyến lưu diễn này, với những thành công của nhóm, Atlantic Records theo đuổi ký hợp đồng và Testament đã đồng ý bắt tay với hãng này. "Tặng phẩm" ra mắt của họ với Atlantic là "Live in Eindhoven" ghi lại buổi diễn của họ tại Hà Lan. Cho đến lúc này ở châu Âu, Testament chỉ đứng sau Metallica về mức độ nổi tiếng và cũng ở đây họ được coi là những nhà tân vô địch của làn sóng Thrash metal thứ hai trong lịch sử
Năm 1988 đánh dấu sự ra đời của album thứ hai "The New Order", vẫn kiên định với những chất liệu như ở album đầu tay. Tuy có hơi thua kém chút đỉnh so với album trước nhưng album này vẫn duy trì được tiếng tăm của ban nhạc.
http://www.testamentlegions.com/tnotn.gif
Testament bắt đầu một tour vòng quanh thế giới, đến tận những nơi xa xôi ở Nam Mỹ, trong hành trang của họ đã có thêm những ca khúc ấn tượng khác như "Trial by Fire", "A Day Of Reckoning", "Into the Pit" . Không dừng lại, Testament tiếp tục cần mẫn xây dựng nên thành công của họ, album tiếp theo "Practice What You Preach" (1989) được trau chuốt rất kỹ lưỡng đã là một thành công vẻ vang chứng tỏ rằng ban nhạc không hề mất đi sức mạnh và sự hung hãn trong khi vẫn hướng cho nhạc của họ tiếp cận với những giai điệu độc đáo khó quên. Ai đã nghe album này hẳn không thể quên được những ca khúc như "Practice What You Preach", "Perilous Nation", "Time is Coming", đặc biệt là "The Ballad", một ca khúc mạnh mẽ ca ngợi tính kiên định của con người trên đường đời đầy hiểm nguy trắc trở.
http://www.testamentlegions.com/practicetn.gif
Trong suốt năm đó, ban nhạc đi dọc nước Mỹ cùng với Savatage và Wrathchild America. Trong thời gian này giữa Testament và Savatage đã nảy sinh một mối quan hệ tốt đẹp, một tình bạn gắn kết chặt chẽ mà nhiều năm sau này vẫn không đổi thay.
Từ một ban nhạc vô danh ở Bay Arena, chỉ sau vài năm Testament đã giành được sự nể trọng. Họ là một trong số ít các nhóm nhạc Metal được MTV ưu ái . Tuy nhiên sự hoạt động liên tục với cường độ cao đã bắt đầu làm nảy sinh bất đồng và rạn nứt trong nội bộ ban nhạc. Sau chuyến lưu diễn dài ngày hỗ trợ cho Judas Priest trong tour quảng bá cho album kinh điển "Painkiller" (1990) ( cũng có sự tham gia của một tên tuổi lừng danh khác là Megadeth ), các thành viên của ban nhạc đã vô cùng mệt mỏi, nhưng sức ép từ nhiều phía đã buộc họ phải gấp rút quay trở lại studio để thực hiện album tiếp theo, "Souls of Black" (1990). Ra đời trong hoàn cảnh các thành viên không còn hứng thú và sức lực, album này chỉ là một sự tập hợp vội vàng và rời rạc những bản demo cũ kỹ và những ý tưởng dở dang. Mặc dù cũng có những phút thăng hoa khó quên như "The Legacy" nhưng album này vẫn bị đánh giá là một album studio có chất lượng trung bình, nếu không muốn nói là kém. Nó cũng nhen nhóm tâm trạng thất vọng và bất mãn giữa các thành viên của Testament. Ban nhạc khôi phục lại chút ít danh tiếng với việc tham gia vào tour diễn "Clash of the Titans" ở châu Âu cùng với Slayer, Megadeth, và Suicidal Tendencies.
http://www.testamentlegions.com/soulstn.gif
Năm 1992, Testament quay trở lại với album "The Ritual", một album xuất sắc và "đúng chất" Testament. Đáng tiếc là trong thời gian đó, khẩu vị âm nhạc của đông đảo người nghe đã thay đổi cùng với sự xuất hiện của cuộc cách mạng grunge từ Seattle, tuy không phải chịu chung số phận thảm hại như dòng Hair/Pop Metal nhưng Thrash metal và Testament cũng mất dần tầm hoạt động. Người nghe dường như đã cố tình làm ngơ những kiệt tác trong album này như "Electric Crown", "Return to Serenity", "As the Season Grey", "The Sermon" ... Và rồi điều tồi tệ đã xảy đến, con Át chủ bài của ban nhạc - guitarist Skolnick - người từ lâu đã phàn nàn về sự hạn chế trong sức sáng tạo do phong cách của ban nhạc đem lại - đã rời nhóm và tới gia nhập Savatage sau khi guitarist của nhóm này, Criss Oliva qua đời. Người thay thế anh trong các tour diễn tiếp theo là Glen Avelais, cựu thành viên của Forbidden ; rồi đến lượt tay trống Clemente cũng giữa đường đứt gánh, và lại được thay thế bằng một cựu thành viên khác của Forbidden là Paul Bostaph. Đội hình này chỉ cho ra được một EP không có tiếng tăm gì đó là "Return to the Apocalyptic City".
http://www.testamentlegions.com/ritualtn.gif
Năm 1994, Testament đón nhận sự gia nhập của tay guitar tài danh - kẻ lang thang bất định James Murphy (từng chơi cho Death, Obituary, Cancer ...) và tay trống John Tempesta từ ban nhạc huyền thoại Exodus. Đội hình này đã cho ra đời một "Low" đen tối và tàn khốc , đây cũng là album cuối cùng với hãng Atlantic . "Low" đánh dấu một bước chuyển trong phong cách sáng tác và biểu diễn của Testament, bên cạnh những ca khúc như "Trail of Tears", "Hail Mary" mang đậm dấu ấn của thời kỳ đầu thì cũng có những "Low" và "Dogs Faced Gods" cho thấy ảnh hưởng rõ nét của Death metal. Tuy khá hay nhưng nó cũng không giúp ban nhạc tiếp tục nhận được sự hậu thuẫn từ phía Atlantic Records , một hãng đĩa lớn chỉ chú trọng về mặt doanh số thương mại
http://www.testamentlegions.com/lowtn.gif
Album "Live at the Filmore" (1995) của họ đã phải phát hành dưới nhãn hiệu riêng Burnt Offerings nhưng lại rất thành công . Testament tiếp tục có sự thay đổi về nhân sự : tay trống lừng danh Gene Hoglan từ nhóm Death đến gia nhập cùng với sự trở lại của thành viên cũ Derrick Ramirez, thay thế tay bass Greg Christian. Đội hình này đã phát hành "Demonic" (1997)- một album pha trộn giữa Death và Thrash mang đậm tính bạo lực chết chóc nhưng cho thấy sự quay trở lại của ban nhạc với những chất liệu truyền thống, tuy nhiên điều làm người hâm mộ lâu năm của ban nhạc thất vọng đó là sự thiếu vắng của những bản power-ballad đã làm nên tên tuổi cho Testament như "The Ballad", "Return to Serenity", "The Legacy" hay "Trial of Tears" trước đây.
http://www.testamentlegions.com/demonictn.gif
"The Gathering", phát hành năm 1999 được thực hiện bởi một "Dream Team" bao gồm Chuck Billy và Eric Peterson - thành viên kỳ cựu; James Murphy, tay bass Steve Di Giorgio ( chơi trong album Dividual Through Patterns của Death) và trống thì được một tên tuổi rất "khủng" khác đó là Dave Lombardo từ nhóm Slayer tới đảm nhận. Đây là album tàn khốc nhất của Testament, giọng ca của Chuck Billy nghe khủng khiếp không thua gì Corpsegrinder của Cannibal Corpse, những ca khúc cũng có ca từ hết sức đen tối như "True Believer", "DNR" , "Legions of the Dead", "Down for Life".
http://www.testamentlegions.com/gatheringtn.gif
Năm 2001, Testament phát hành gần như cùng lúc hai album. Một bao gồm phiên bản mới của những ca khúc Thrash kinh điển ở thời kỳ đầu của ban nhạc mang tên "First Strike Still Deadly", một tập hợp nhũng ca khúc thành công nhất của ban nhạc mang tên "The Very Best Of".
Đội hình mới của Testament vẫn có sự góp mặt của Chuck Billy, Eric Peterson, Steve Di Giorgio và sự gia nhập của guitarist Steve Smyth - cựu thành viên nhóm Sadus cùng tay trống lập dị Jon Allen. Trong lúc đó, Alex Skolnick, anh chàng đa tài nhưng cau có từng một thời là con Át chủ bài của ban nhạc giờ đây đã trở thành một jazzman lừng danh ở East Coast, cùng lúc chơi cho bốn nhóm Skol Patrol, Skol Trio, Attention Deficit và Trans-Siberian Orchestra (một nhánh phụ của Savatage, chuyên trị thể loại rock-opera).
Tương lai của Thrash metal hiện nay nói chung là không rõ ràng, nhưng những người hâm mộ kiên định của dòng nhạc cuồng nhiệt và hung hãn này vẫn có thể tin tưởng vào những tên tuổi như Testament. Trong gần 20 năm qua, họ đã kiên trì với con đường mà mình đã chọn, không chấp nhận một sự thoả hiệp nào làm thất vọng những người luôn tin tưởng ở nơi họ. Nếu như bạn chưa biết đến Testament thì bạn vẫn chưa hoàn toàn hiểu kỹ về Thrash metal !
http://www.testamentlegions.com/tl-main.jpg
http://www.deathmetal.com/nile/nilelo%7E1.gif
Nếu như không có con sông Nile, nền văn minh Ai Cập cổ đại sẽ không bao giờ được rực rỡ đến thế và chúng ta sẽ chẳng bao giờ được xem phim về các xác ướp (có xác còn lưu lại đến giờ, đi lễnh nghễng ngoài đường !!!). Không chỉ mang đến nguồn nước cho vùng đất khô hạn này, Nile còn mang dến một thứ quí giá hơn nhiều: phù sa. Một nguồn cung cấp nước chính cho Nile là hồ Tana ở vùng núi của Etiopia. Mùa xuân đến, mưa nhiều, nước ở hồ Tana đổ xuống Ai Cập qua sông Nile và trên đường đi, nước cuốn theo nhiều chất phù sa. Mỗi năm, sông Nile dâng nước lên 1 lần và làm ngập vùng thung lũng, khi rút nước xuống, sông Nile để lại 2 bên bờ sông những lớp đất màu mỡ và con người có thể trồng trọt ngay giữa sa mạc. Tuy nhiên vùng đất có thể trồng trọt này cũng bé tí, chỉ dài khoảng 6 dặm dọc theo sông Nile và mảnh đất bé bằng cái … quần đùi đó phải nuôi cả dân tộc vì vậy việc sử dụng cần hết sức khéo léo.
Vai trò của Nile trong death metal chưa thể nào sánh với dòng sông Nile nhưng "chưa" không có nghĩa là "không". Không hiểu các rocker khác nghĩ thế nào nhưng bạn bè tớ chả ai thích Nile cả dù tớ cố công thuyết phục. Nile được đánh giá cao trong các review và được xem như một nhóm death metal sẽ khơi dậy lại dòng chảy của death, vốn đang có vẻ chững lại. Thật sự, Nile khơi dậy dòng death trong cá nhân tớ, tớ từ bỏ death đã khá lâu và đang vật vã trong doom, gothic & prog. Nile làm tớ lục tủ đĩa nghe lại Demolition Hammer, Malevolent Creation, Deicide…
Dòng chảy của Nile khi bắt nguồn từ các vùng núi vốn chảy rất xiết (vì thế mới kéo theo được phù sa) nhưng khi đến Ai Cập thì chậm hẳn lại. Nhóm Nile thì trái lại, họ khởi đầu khá chậm chạp. Thành lập năm 93, năm 94 có single demo, đến năm 95, Nile mới có được đĩa đầu tiên nhưng không chưa đủ sức là album mà chỉ là EP có tên Festivals Of Atonement. Năm 97, lại một EP nữa (chỉ có 3 bài ) là Ramses Bringer Of War. Năm 98, họ mới đủ sức tung ra 1 album Amongst The Catacombs Of Nephren-Ka. Năm 2000, chào mừng thiên niên kỉ mới, Nile tung ra Black Seeds of Vengeance. Tuy nhiên, chỉ trong vòng 2 năm với 2 album đó đã đưa Nile lên vị trí rất cao trong dòng death.. Phù sa đã đủ để kết tinh thành hoa trái. Hiện nay, In Their Darkened Shrines, album thứ 3 của Nile đang chuẩn bị phát hành. I’m longing for this, man…Trở lại với tiểu sử của Nile, năm 93, 3 gã trai trẻ từ South Carolina là Karl Sanders, Chief Spires, Pete Hammoura tụ họp lại để lập ban nhạc, Karl cầm guitar, Chief cầm bass còn Pete cầm … dùi. Nhiệm vụ trước micro được chia sẻ giữa Karl và Chief. Có 1 “phê bình gia “đã viết : rắc rối đối với death metal là thiếu sự độc đáo, mới mẻ (originality), có vẻ mọi band nhạc đều cảm thấy hài lòng khi chơi y chang như Morbid Angel. Ý kiến này chắc sẽ gây nhiều tranh cãi nhưng cá nhân tôi nghĩ có phần đúng. “Phê bình gia” viết tiếp : “ Nile xuất hiện để thay đổi điều đó”. Dĩ nhiên, giống như các ban death metal khác, Nile cũng đã học tập nhiều từ Morbid Angel, nhưng ngoài các cú riff mạnh mẽ, giọng hát gầm gừ, Nile còn mang đến được nhiều hơn thế. Trước hết là về đề tài, nếu quá chán ngán với máu me, xác chết, mổ bụng lột da, Nile sẽ mang lại không khí mới với đề tài cũng không kém phần “hung dữ”. Cũng xác chết, cũng lột da nhưng là để làm ...xác ướp và chủ đề nghiêng về các vị thần của người Ai Cập. Không chỉ dừng lại ở đề tài, Nile tìm cách đem các nhạc cụ, âm hưởng của Ai Cập vào âm nhạc và tôi nghĩ ở một mức độ nào đó, họ đã thành công (tuy rằng chưa rõ rệt) qua đoạn intro ( hầu hết các bài), giang tấu (Wrought), outro(Extinct) hoặc trọn bản (Die Rache Krieg Lied Der Assyriche) ( tôi nghĩ là rất khó mang các nhạc cụ dân tộc vào death metal vì đặc thù của dòng nhạc này, Sepultura done a goodjob nhưng tớ chả thích nhạc Brazil dù tớ khoái cái màn carnival hehehe). Năm 95, Nile bắt đầu lưu diễn ở đông nam nước Mĩ hổ trợ cho các đàn anh như Obituary (my used-to-be-fav-band), Deicide, Broken Hope, Six Feet Under … Danh tiếng của Nile nhanh chóng nổi như cồn tại… quê nhà (thú thật là tôi không biết thêm một nhóm nào xuất thân từ South Carolina nữa). Năm 96, Nile tiếp tục dạo bước ở khu đông nam Mĩ, lần này là với đàn anh Incantation. ( Tôi chưa nghe qua Incantation, chỉ biết đến nhóm này khi một lần search trên Internet về đĩa Incantation của flutist Tim Wheeler). EP Ramses Bringer Of War được phát hành bởi Visceral Productions ( giống như HT Productions của anh Đan Trường í mà). Album trọn vẹn đầu tay đang được thai nghén thì Visceral Productions sập tiệm cuối năm 1997. Relapse bước vào “giơ đầu chịu báng” sau khi đã nghe và chứng kiến Nile diễn live tại Expo of the Extreme ở Chicago. Relapse kí hợp đồng với Nile và phát hành Amongst The Catacombs Of Nephren-Ka. The sandstorm began to rage…
Divine Intent
Khúc intro của Divine intent làm tôi nhớ đến Type O Negative khi cover lại bản Black Sabbath, cảm giác trong một căn phòng hay đúng hơn là 1 cái giếng, xung quanh toàn là bóng tối, xa thẳm là những tiếng rên, không khí đặc quánh và khó thở với tiếng fuzz guitar chậm chạp. Đoạn intro này sử dụng một số nhạc cụ khá lạ, không rõ có phải có nguồn gốc từ Ai Cập không. Cảm giác của sludge metal mau chóng được xoá đi với drum và guitar thay đổi tempo đột ngột “ ta trỗi dậy trong chói lọi, vươn tay lên bầu trời, bước theo quờ quạng bởi vì ta biết, mọi thứ sẽ được lộ ra trong ánh nắng. Ta thần phục trước thần linh, chờ đợi sự thiêu đốt. Ta khẩn cầu, hướng mắt về phía Mặt trời đang rừng rực. Ta không muốn quay mặt đi dù lửa mặt trời đang cháy bỏng đôi mắt bởi vì trong thống khổ, ta trở thành thần thánh. Chìm sâu trong ánh sáng chói loà mãnh liệt, ta cúi rạp trước thần Re, người đã lấy đi cái nhìn, đôi mắt của ta. Dòng nước mắt trôi ra như suối, ta lại trở về với cát bụi, đôi mắt được thiêu đốt thành than, ta không còn thấy vị thần nào nữa vì chính ta đã trở thành thần thánh”. Trong bài hát này có nhắc đến thần Re, đây là vị thần mặt trời, mình người, đầu chim ưng, trên đội một chiếc đĩa (hơi giống đĩa cd ) hình mặt trời. Re là một vị thần rất quan trọng vì vậy các pharaoh thường xưng mình là “con trai thần Re”. Re cũng là cha của Hathor và Sekhmet, các thần sau này còn được nhắc nhở nhiều trong các bài hát của Nile và trong lời của Nile thì Re được viết thành Ra (chỉ là 1 tên gọi khác, như Atum cũng chính là Re)
Black Hand Of Set
Một ca khúc death metal tiêu chuẩn, không có intro và phần lời khá … (không biết phải nói sao), ca khúc này có nhắc đến những kẻ ăn thịt người kiểu như tử thần thực tử và bây giờ, là hậu duệ của cha ông, chúng ta phải traaaaaaaaaaaaaaaaaả thuuuuuuuuù. Cuối ca khúc này có đoạn :
Pierce his Lungs with the stings of Scorpions
Oh Kali
Oh Sekhmet
Oh Dagon
Đó là 1 câu trích trong thần chú của Satan kêu gọi sự huỷ diệt (Invocation Of Destruction) “Oh Kali! Pierce his (her) lungs with the stings of scorpions, Oh Sekhmet! Plunge his (her) substance into the dismal void, Oh mighty Dagon!”
Sekhmet như đã nói ở trên là con của thần Re, thường được mô tả là nữ thần có đầu sư tử cái. Sekhmet có nghĩa là “kẻ mạnh mẽ”, và giữ vai trò đôi mắt của thần Re. Sekhmet thường được nhìn nhận như một vị thần ác chính vì vai trò này : “đôi mắt của thần Re” luôn mang đến những hình phạt khốc liệt cho những kẻ dám nhạo báng vị thần mặt trời. Sự huỷ diệt của Sekhmet đã che mờ vai trò khác của vị thần này: người chữa bệnh, người che chở bảo vệ. Người Ai Cập cổ đại là những người bác sĩ đầu tiên của nhân loại, họ rút kinh nghiệm từ thực tiễn quan sát các ca bệnh, cả qua những thử nghiệm và sai sót. Những “bác sĩ” này tôn Sekhmet là vị thần hộ mệnh của mình.
Wrought
Một đoạn intro khá réo rắt, nghe như nhạc dành cho các cô gái múa bụng. Bản nhạc có tempo trung bình, các cú riff nghe rất quen thuộc mà không biết nên nhớ tới ai. Không rõ có liên hệ gì giữa tựa bài hát với phần lời vì tớ chẳng thấy ăn nhập gì hết. Lời bài hát có nhắc tới Nanna, đây là vị thần mặt trăng, “cha của Zonie và huynh trưởng của những kẻ lang thang”. Vị thần này có râu dài, tay cầm chiếc đũa phép (kiểu như Harry Potter, chắc thế !) màu xanh da trời. Các vị thần được xếp ngang với Nanna là Inanna, Marduk, Nebo, Nergal (ca sĩ chính của Behemoth đã lấy tên này làm tên mình), Ninib, Shammash. Đây là 7 vị thần cai trị 7 ngôi sao trong Thái dương hệ. Thần thoại của vùng Trung đông bao gồm sự đan xen giữa nhiều nền văn minh: Lưỡng Hà (Mesopotamian), Babylonian, Sumerian, Assyrian, Phoenician, Ba Tư, Thổ, Canaanite, Chaldean, Syrian, Hittite… vì vậy có rất nhiều dị bản. Nhà văn HP Lovecraft, như Tolkien, cũng rất có ảnh hưởng tới các nhóm nhạc rock (đặc biệt là Metallica), cũng nhiều lần đề cập đến mớ lùng bùng các vị thần này khi nhắc tới Necronomicon của Abdul Alhazred (biệt danh Mad Arab, một trong 2 thành viên của Goat Thrower cũng lấy biệt danh này, không hiểu sao không tìm được thông tin gì thêm về nhóm Goat Thrower). Quyển sách này, theo nghiên cứu, là thật sự có tồn tại chứ không phải chỉ là một tác phẩm mà Lovecraft tưởng tượng ra. Lý thuyết mà Lovecraft đặt ra, tuy có vẻ chỉ để giải trí, nhưng đã được so sánh với Aleister Crowley …
Immortality Through Art/Godless
Cũng như giữa sa mạc khô cằn có mảnh đất trồng trọt bé tẹo kia, Nile thỉnh thoảng có những bản hoà tấu đàn thùng nghe như ru, ở EP Festivals of Atonement là track 4 Immortality Through Art/Godless, ở Black Seed là track 5. Cần lưu ý là đĩa In the beginning (đang có bán ở SG) đã có sai sót trong bìa đĩa . Đĩa nhạc chỉ có 8 track nhưng bìa đĩa in 9 track. Nguyên nhân chính là track 4 này. Trong EP Festivals of Atonement, track 4 là Immortality Through Art/Godless (Immortality Through Art là 1 bản instrumental và đã được ghép vào với Godless như Tracy’s song/ Only time will tell của Nelson ngày xưa). Nhưng đĩa nhạc lại in thành 2 track riêng biệt, vì vậy, từ track 6 trở đi, các bạn cần giảm đi 1 số thứ tự thì mới đúng tên bài hát.
Mặc dù nhắc tới vô số thần thánh, tới Godless thì Nile phủ nhận tất cả “chẳng tin tưởng vào thần nào, chẳng có vị thần giả tạo hay dối trá, chẳng có giáo điều nào có thể nô dịch được ta. Những lời của ta là sự thật, ta được tẩy trần trong ngọn lửa, ta không hề sợ sự trừng phạt báo thù nào”. Nile còn cho cái đầu của xác ướp vua Ramses gãy rời ra, lăn lốc lốc trên sàn, nát vụn…
Extinct
Đoạn mở đầu của Extinct khá hoành tráng, như soundtrack cho một bộ phim khoa học giả tưởng về nền văn minh trên các hành tinh lạ, về các phi thuyền trôi lờ lững trong không gian… Khoảng 4 phút đầu, mọi thứ đều có vẻ chậm chập và một lần nữa, cái cảm giác đặc quánh. “ Khi ngủ, tôi mơ về cái chết, sục sôi với giận dữ, cơn giận dữ cực độ đã làm nhoà tầm nhìn của tôi, nhưng điều đó có ý nghĩa gì nữa không khi yên bình chỉ có trong cái chết. Trong thiên đường đã đánh mất, tôi mơ về sự huỷ diệt” Phút thứ năm bắt đầu chứng kiến sự cuồng nộ kiểu Cannibal Corpse nhưng câu guitar chủ đề vẫn còn nghe được rất rõ ràng.
Howling Of The Jinn
Căng thẳng ngay từ đầu !!!
Nafs al Ammara
Fana Azif
I am the Infidel
Fiendish Insects encircle Me
Howling Winds Wraiths
Surrounding me disembodied Ka
Nafs có nghĩa là linh hồn, tâm linh, bản ngã. Một số học giả đã chia Nafs thành 7 loại, 7 tầng lớp nhưng thông thường, Nafs được nhìn nhận thành 3 loại từ xấu tới tốt là : Nafs al-Ammara Bissu - phần hồn thúc đẩy những điều tội lỗi; Nafs al-Lawwama - phần hồn trách mắng, đổ lỗi, ví dụ như không ít người trong chúng ta đã tự trách bản thân tại sao lại yêu cô này (cô không yêu mình) mà lại không yêu cô kia (cô yêu mình) hoặc tại sao thích nhạc rock mà không yêu teenpop (!!!)và Nafs al-Mutma'inna (phần hồn yên bình, cảnh giới tối cao ). Karl (sáng tác tất cả các ca khúc cho nhóm) đã chọn phần Nafs xấu xa nhất để khởi đầu bài hát. “Tiếng gào thét của đám Jinn” khiến tớ dù có lời trước mặt cũng khó khăn lắm mới dò theo được. Đảm trách phần vocal cho Nile không chỉ là Karl hay Chief mà là cả 3 thành viên và hình như ca khúc này là dịp hiếm hoi để nhận ra điều đó. Vậy Jinn là cái khỉ gì? theo kinh thánh của đạo Hồi, con người được Thượng đế tạo ra từ đất sét còn jinn được tạo ra từ ngọn lửa không khói! Jinn có thể hiểu như loài quỉ xấu xa luôn đeo đuổi và làm hại con người. Jinn không phải là những thiên thần bị đày mà chỉ có …” tổ sư” của jinn là Iblis mới là thiên thần bị đày. Iblis được xem như hình ảnh của Satan trong đạo Hồi. Số là khi Allah tạo ra con người và sai khiến các thần phải qui phục và tôn sùng con người. Chỉ có Iblis là bất tuân thượng lệnh với lí do con ngưòi chỉ là thứ được tạo ra từ bùn đen. Thế là Allah ra lệnh Iblis sẽ bị nguyền rủa. Iblis bèn trả giá: hãy hoãn sự nguyền rủa đó đến ngày những xác chết sống dậy. Allah chấp nhận và tống khứ Iblis chứ không nguyền rủa. Iblis “cám ơn” bằng cách tuyên bố sẽ dụ dỗ những kẻ nào không phải là môn đệ của Allah, những kẻ được Allah chọn hay nói cách khác là đã chọn để đi theo Allah. Allah chấp luôn : “Ngươi không có quyền lực gì với những tín đồ của ta, chỉ trừ những kẻ theo người mà lạc lối, trở thành tội phạm, những kẻ đa thần giáo, và những kẻ làm việc xấu.” Từ đó, có 1 đám jinn sống giữa con người và tìm cách dụ dỗ, làm hại con người. Jinn có loại có cánh, bay giữa không trung, có loại dấu mình trong hình dáng của rắn và ****. Từ “genie” trong tiếng Anh cũng có âm gần giống với jinn và một trong những jinn nổi tiếng nhất lại rất hiền, đó là ông thần đèn của Aladin trong Nghìn lẻ một đêm. Jinn thường tụ tập tại Kaf, một dãy núi theo truyền thuyết bằng ngọc lục bảo.
I can hear the Howling of the Jinn
Echoing in the mountains of Kaf
Lời ca khúc này có thể hiểu là lời của một linh hồn vừa rời khỏi xác thân của mình và nghe được tiếng gọi của muôn ma Hời dắt díu nhau đi (ý thơ Chế Lan Viên, không nhớ rõ nguyên văn). Cái hồn vừa lìa khỏi xác này kinh hoàng nhìn thấy chính thân thể mình đang nằm dưới kia, dòi bọ, côn trùng bắt đầu kéo tới thết tiệc, càng kinh hoàng hơn khi nghe tiếng gào thét, tiếng rú rít của jinn, những âm thanh kinh hoàng này chỉ có những linh hồn của người đã khuất và kẻ điên mới nghe được (không rõ nghe được rồi điên luôn hay điên mới nghe được )
“Disembodied Ka “ là một trong những quan niệm cũ xưa và phổ biến nhất của người Ai Cập về phần hồn, về tâm linh của con người. Người Ai Cập tin rằng mọi vật tồn tại đều có một bản sao vô hình và bản sao đó chính là Ka. Ka bắt đầu khi con người sinh ra và tiếp tục tồn tại sau cái chết “sinh lí”, không chỉ con người mà cả con vật, cây cối, nước, kim loại, đó và cả các vũ khí mà con người tạo ra đều có Ka. Khi con người ngủ, Ka sẽ thoát ra ngoài đi lòng vòng chơi ! Sau cái chết của cơ thể mà Ka trú ngụ, Ka vẫn tiếp tục tồn tại và cũng cần ăn uống vì vậy người ta cần phải cúng tế.
Ramses Bringer of War
Tiếng trống nghe có vẻ thúc giục, muốn đẩy lượng adrenaline trong máu tăng cao. Phần nhạc khiến tớ có thể hình dung ra cảnh một đoàn quân cờ xí ngợp trời đang bước đi (TV mới chiếu Thành Cát Tư Hãn mừ!!!). Bày binh bố trận xong (khoảng 1 phút đầu), 2 bên mau chóng giáp lá cà, uýnh nhau chí tử, khởi đầu bằng tiếng thét xung trận của … Sanders ở giây thứ 25 phút thứ nhì. Vẻ khốc liệt và náo loạn của cuộc chiến được thể hiện khá xuất sắc, có 1 đoạn ngắn giống như Bạch Đằng Giang !!! Ca khúc mô tả vẻ dũng mảnh của vua Ramses khi tung hoành trong chiến trận, vị vua này cưỡi chiến xa, nghiền nát xương sọ của những kẻ hấp hối, cắt lìa tay chân của những xác chết, như một cú tấn công của chim ưng.
Der Rache Kreig Leid Der Assyriche
Không phải death metal nhưng đây là một trong những bản đáng chú ý nhất của Nile, vẻ giận dữ tàn khốc của death vẫn chất chứa trong giọng hát với phần hát đệm là tiếng cầu kinh, thỉnh thoảng là những tiếng cồng chiêng riềng vang. Không thể mô tả nhiều mà nên nghe bản nhạc này sẽ hiểu hơn.
Tuy chỉ có 3 bài hát nhưng tôi nghĩ bố cục của EP này khá hoàn chỉnh và xuyên suốt. hic, hình như ít người nghe và thích Nile quá
Amongst The Catacombs Of Nephren-Ka
Album này đã giúp xác ướp Nile đội bật nắp quan tài, trỗi dậy từ lớp cát sa mạc của vô số nhóm nhạc death metal tầm tầm. Đó là theo đánh giá của nhiều người chứ thật sự tớ chưa được nghe đĩa này! Định mua đĩa này nhưng nghe nói bên Úc, đĩa của Nile chẳng có sale off mà cũng chẳng có second hand, mà brandnew thì đến 29 AUD. Theo tớ nghĩ thì chỉ cần EP đầu là đủ để Nile vươn bàn tay ra khỏi lớp cát rồi Trong album này có cả 3 bản trong EP thứ nhì Ramses Bringer of War. Phát hành đĩa này xong, Nile tất tả ngược xuôi để mọi người biết đến đĩa này. Cuối cùng, Nile được vinh dự tháp tùng Morbid Angel. Karl tuyên bố “ Mỗi khi chúng tôi diễn, chúng tôi chơi với tất cả sức lực của mình, chúng tôi chơi từng nốt nhạc như đó là nốt cuối cùng mà chúng tôi có thể chơi”. Nhờ đó, Nile chinh phục được đông đảo bà con tại Dynamo Open Air năm 99 và nhân tiện đi diễn quanh châu Âu luôn (cùng với Vader, Cryptopsy và Enslaved). Lúc đó một tạp chí đã phóng vấn Karl về album kế tiếp, Karl nói rằng album kế sẽ nhanh hơn, nặng hơn và mang tính sử thi hơn. Anh cho rằng từ Festivals of Atonement đến Amongst The Catacombs Of Nephren-Ka là một bước nhảy vọt và từ Amongst The Catacombs Of Nephren-Ka đến album kế tiếp cũng là 1 bước nhảy khác. Lúc trả lời phóng vấn, Karl cho rằng họ đã chơi những bài hát trong Amongst The Catacombs Of Nephren-Ka đã được 1 năm rưỡi trong các chuyến lưu diễn, vì vậy chơi những bài hát đó dễ như …. uống trà! Vì vậy, họ phải viết và tập các bài hát mới. Karl cũng ca ngợi người nghe ở châu Âu “người nghe ở đây thật sự thích metal, ở Mĩ, mọi thứ chỉ theo phong trào, chỉ là mốt nhất thời và mốt thì dễ dàng bị thay thế bởi mốt khác mới hơn. Hiện giờ, mốt ở Mĩ là hardcore nên chúng tôi không được đánh giá cao ở Mĩ, ở châu Âu này thì khác, it’s *** good”. Nói chung, mọi thứ sẵn sàng và tốt đẹp cho album kế tiếp …
Stratovarius
Stratovarius được thành lập năm 1984 tại thành phố Helsinki bởi ba chàng trai Phần Lan trẻ tuổi đó là: Tuomo Lassila là vocal kiêm chơi trống, John Vihervä chơi bass và tay ghi ta chính là Staffan Stråhlman.
Khi mới thành lập cái tên Stratovarius chưa tồn tại mà thay vào đó là một cái tên nghe cũng thật bí hiểm đó là Black Water và trong cái thuở ban đầu ấy, chất liệu âm nhạc mà ban nhạc chơi thật sự rất khác biệt so với những gì mà chúng ta vẫn thường nghe ngày nay vì nó bị ảnh hưởng nặng nề bởi Black Sabbath và Ozzy. Tuy nhiên Staffan tay ghi ta chính của ban cũng đã tạo ra được một nét riêng biệt độc đáo của ban bằng cách đem vào vài yếu tố cổ điển xen lẫn trong nền nhạc.
Đến cuối năm 1984, John quyết định rời ban nhạc và Jyrki Lentonen(anh là người trước đây đã từng chơi nhạc với Timo Tolkki trong một ban nhạc có tên là Road Block) được mời về để thế chỗ cho John.
Đến năm 1985, đến lượt Staffan ngỏ ý không muốn tiếp tục chơi nhạc trong ban nữa và anh ta đã ra đi một tuần trước khi ban kí được một hợp đồng chơi nhạc ở Aalborg Đan Mạch. Để lấp chỗ trống của thành viên này, Tuomo đã gọi điện đến mời Timo Tolkki ra nhập ban nhạc và Timo đã đồng ý hợp tác tuy nhiên ban đầu anh chỉ tham gia với tư cách thử nghiệm. Timo đã học tất cả các bài hát được thu trong nhưng băng nhạc và sau đó là một vài lần tập dượt với ban khi ban lưu diễn ở Đan Mạch. Sau khi Staff ra đi, Tuomo vẫn tiếp tục giữ vai trò là Vocal và chơi trống, tuy nhiên điều này càng ngày càng trở nên rối rắm và phức tạp, ban nhạc thật sự cần một người thế vào chỗ của Tuomo. Nhưng vào thời điểm ấy, việc tìm được một vocal giỏi cho ban nhạc là rất khó do đó Timo đã quyết định đảm nhận vai trò này trong ban nhạc. Và cũng chính từ đây thứ âm nhạc mà Stratovarius chơi đã được định hình riêng biệt hơn và đã thật sự giống với những gì mà ngày nay chúng ta đang thưởng thức: thật sự du dương, êm ái và chịu nhiều ảnh hưởng của âm nhạc giao hưởng cổ điển.
Sau khi mọi vị trí đã ổn định, ban nhạc bắt đầu tập trung hơn vào việc luyện tập và đã kí được một hợp đồng thu âm tại Helsinki và sau đó vào năm 1987 ban nhạc đã thu được album demo đầu tiên của riêng mình. Album ban đầu này bao gồm ba bài đó là: “Future Shock”,”Fright Night” và “Night Screamer”. Bản thu demo này đã được gửi đến rất nhiều hãng thu âm khác nhau ở Phần Lan và CBS Findland đã quyết định kí kết hợp đồng với ban sau khi xem một show diễn của ban tại câu lạc bộ Tavastia. Tại thời điểm này ban nhạc đã có thêm một thành viên mới là tay keyboard Antti Ikonen.
Vào năm 1988, ban nhạc đã thu single đầu tiên với tựa đề là :” Future Shock/ Witch Hunt” . Tiếp theo ngay sau đó là một single khác :”Black Night/ Night Scream” được thu trong khoảng đầu năm 1989 và cuối cùng vào tháng Tư năm 1989 ban đã trình diễn album “Fright Night”. Thế nhưng ngay sau những đợt diễn lớn của ban cùng với các ban metal khác trong suốt mùa hè và mùa thu năm 1989, tay bass Lentonen đã quyết định rời bỏ ban nhạc, tuy vậy các sáng tác của ban vẫn tiếp tục ra đời.
Nhưng rồi hãng CBS dường như đã không còn quan tâm đến chất liệu nhạc mà Stratovarius chơi nữa. Tuy vậy ban nhạc vẫn quyết tâm không từ bỏ chất liệu âm nhạc mà họ đã chọn, trái lại họ tiếp tục luyện tập nhiều hơn nữa, cho ra đời nhiều tác phẩm mới và kết quả là sự ra đời phần tiếp theo của album :” Fright Night”. Trong suốt khoảng thời gian này, ban nhạc không bị ràng buộc bởi bất cứ một giao kèo thu âm nào cả và họ phải tự lo hoàn toàn kinh phí để hoạt động. Timo vẫn tiếp tục chơi bass mặc dù trong bức ảnh bìa ngoài của album: “Twilight Time” đã có sự xuất hiện của một tay bass mới là Jari Behm. Nhưng Jari cũng sớm từ bỏ ban nhạc vì phong cách chơi nhạc của anh không phù hợp với chất liệu mà Stratovarius đã chọn.
Album thứ hai của ban là :”Stratovarius II” được giới thiệu ở Phần Lan vào đầu năm 1992. Tại thời điểm này, ban nhạc có một cơ hội rất tốt để tham gia vào các thị trường âm nhạc bên ngoài Phần Lan. Đã có rất nhiều các băng nhạc của ban được gửi đi khắp toàn thế giới và hãng ghi âm Shark đã tìm đến với ban sau khi nghe bài hát: “Hand of Time”. Cuối cùng, album “Stratovarius II” được giới thiệu với một cái tên mới và với nhiều sự thay đổi trong cách chơi dưới cái tên :”Twilight Time” vào tháng 10 năm 1992 trên toàn Châu Âu.
http://www.metal.it/copertinemedie/Stratovarius-TwilightTime.jpg
Thật ngạc nhiên album này sau khi thâm nhập vào thị trường Nhật Bổn đã nhanh chóng trở thành album xuất khẩu ăn khách nhất ở Nhật Bổn năm 1993. Kéo theo nó là một bản hợp đồng ghi âm thật sự lớn với hãng JVC Victor Entertainment ở Nhật, đây cũng chính là hãng đã cho ra tung ra album :” Twilight Time” vào thàng 6 năm 1993. Timo đã bay tới Nhật lần đầu tiên trong cùng thời điểm này để tăng cường sự quảng bá trong ban và anh đã thấy được rằng ban nhạc thực sự đã trở nên quảng bá rộng rãi trong giới yêu nhạc với sự đam mê cuồng nhiệt của các fan. Trong khoảng thời gian rỗi khi tìm kiếm các hợp đồng thâu âm mới, ban nhạc tiếp tục nghiên cứu và sáng tác ra các bản nhạc dựa trên những chất liệu mới và ban nhạc đã tiến hành thu âm các bản nhạc mới trong suốt năm 1993. Cũng tại thời điểm này, một tay bass mới đã ra nhập ban nhạc đó là Jari Kainulaien. Chính anh đã tham gia vào quá trình thu âm với hơn 70% công việc. Ngay sau đó, Tuomo đã gặp phải một số chấn thương ở các hai tay nên không thể chơi trống trong suốt hơn tám tuần. Ban nhạc đã phải mời tạm tay trống của ban Kingston Wall là Kuoppamäki vào lấp chỗ trống này. Anh này đã tham gia ghi âm bốn track thuộc album này.
Và cuối cùng album thứ ba của ban là :” Dreamspace” cũng ra đời vào thàng 2 và tháng 3 năm 1994. Album đã nhận được sự đánh ra rất cao của giới phê bình và nhờ nó mà ban nhạc đã bước lên một bậc cao hơn của sự thành công. Album này bao gồm rất nhiều các bài mang đậm chất liệu nhạc cổ điển ví dụ như bài cùng tên với album, “4th Reich” và “Chasing Shadows”. Vào thàng 6, ban nhạc đã thực hiện tour diễn đầu tiên tới Nhật Bản và chơi nhạc tại Tokyo, Osaka và Nagoya để được tận mắt thấy được sự đam mê đối với ban của của các fan Nhật Bản.
Không dừng lại ở đó, những ý tưởng mới lại được định hình từ những xúc cảm của ban có được trong đợt lưu diễn tại Nhật, ban nhạc lại quay trở lại studio tiếp tục sáng tác trong suốt thời gian từ mùa xuân cho tới mùa hè năm 1994. Timo đã thực sự thực hiện được mơ ước từ lâu của anh là ghi âm được album solo của riêng mình:” Classical Variations anh Themes”. Với bản thân tôi đây là một album thật sự hay với nhiều bài hát cũng như bản nhạc mang đậm phong cách cổ điển của ban và thật đúng với cái tên khúc giao hưởng biến tấu. Album bao gồm nhiều bài hay như bài: “ Fire Dance Suite”( đây là bài nguyên gốc được viết cho album:” Stratovarius “ vào năm 1986; hay như :”Lord Of The Rings” v.v.. đặc biệt là bài số 11 với tiêu đề :” Green Sleeves” đã để lại cho tôi một ấn tượng mạnh về giai điệu. Nếu bạn chưa có hay chưa nghe album này hãy thử mua về và nghe mà xem, nó thật sự tuyệt vời. Album được tung ra thị trường vào tháng 10 năm 1994. Stratovarius đã làm việc cả mùa hè năm 1994 để hoàn thành album này.
Thế rồi đến một ngày, Timo Tolkki đã quyết định rằng thời gian anh ta làm ca sĩ sẽ chấm dứt và ban nhạc nên tìm một ca sĩ thích hợp để đưa danh tiếng của ban vang xa hơn. Và một cuộc tìm kiếm ca sĩ bắt đầu với những thông báo tuyển người trên các tờ báo địa phương, một vài người đã đề cập đến một chàng trai là Lappajarvi người mà đã gần như trở thành một trong những thành viên của ban nửa năm trước đó. Ngay sau đó, Timo Kotipelto đã gọi điện hỏi ý kiến Timo Tolkki và một cuộc thử giọng được sắp xếp. Ban nhạc đã chơi dạo vài bài và chàng ca sĩ mới đã cố hát theo nhưng tất cả đều hiểu rằng anh ta chỉ là một ca sĩ mới.
Ở album tiếp theo của ban nhạc là:” Fourth Demision” có thể coi là một album solo thứ hai của Timo Tolkki vì anh đã hát tất cả các bài hát có trong album này. Bản thân chính cái tiêu đề của album cũng nói lên tất cả rằng âm thanh, ca từ trong album này đều khác biệt hoàn toàn so với những gì trước đây nhưng phong cách âm nhạc đích thực của Stratovarius vẫn được lưu giữ. :” Fourth Demision” được tung ra thị trường thế giới vào tháng 3 năm 1995 và doanh số bán được của nó gấp đôi so với doanh số của album :” Dreamspace”.
Chính sau thời điểm này, ban nhạc đã tổ chức các show diễn một cách liên tục trên khắp các nước Đức, Thụy Sĩ, Hà Lan, Phần Lan, Hy Lạp và Nhật Bản. Thế nhưng sau tất cả những show diễn ấy hay thành viên gạo cội của Stratovarius là Toumo và Attin đã ngỏ ý muốn rời khỏi ban nhạc. Có rất nhiều lý do khác nhau được